Wednesday, October 2, 2013

 

Bồi Trịnh Quảng Văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 1


 

不 識 南 塘 路,                    

Bất thức Nam Đường lộ
今 知 第 五 橋。                    

Kim tri đệ ngũ kiều
名 園 依 綠 水,                    

Danh viên y lục thủy
野 竹 上 青 霄。                    

Dã trúc thướng thanh tiêu[1]
谷 口 舊 相 得,                    

Cốc Khẩu cựu tương đắc
濠 梁 同 見 招。                    

Hào Lương đồng kiến chiêu
平 生 為 幽 興,                    

Bình sinh vị u hứng
未 惜 馬 蹄 遙。                    

Vị tích mã đề diêu[2].

           杜 甫              Đỗ Phủ

 Nghĩa
Theo Trịnh Quảng Văn dạo chơi vùng rừng núi của tướng quân họ Hà kỳ 1


Không rành đường xá ở Nam Đường
Nay mới biết đây là cây cầu thứ năm
Khu vườn nổi tiếng với dòng nước biếc
Trúc hoang in bóng lên nền trời xanh
Kia Cốc Khẩu là nơi ưa thích cũ
Đây Hào Lương là nơi ta cùng gặp gỡ
Thường ngày chỉ cảnh u tịch,
Nay chả tiếc vó ngựa in khá xa.




 
Nam Đường lối chẳng rõ.                
Nay biết cầu thứ năm.                      
Vườn xinh trên nước biếc.                 
Trúc hoang dưới trời thâm.              
Cốc Khẩu nơi ưa thích.                    
Hào Lương chốn cùng thăm.            
Bình thường thích u tịch,                           
Không tiếc đi xa xăm.                       
                                         VHKT
Các nẻo Nam Đường thật dễ quên.
Nay cầu Đệ Ngũ sẽ quen tên.
Vườn xinh, lờ lững sông bên cạnh.
Trúc dại, thanh thanh trời ở trên.
Cốc Khẩu thanh bình, mình thích đến,
Hào Lương lặng lẽ, ta ưa lên.
Bình thường u tịch gây hào hứng,
Chẳng tiếc đi xa, ngựa đã rên.
VHKT






[1] 1. khoảng trời trống. 2. mây
[2] Còn đọc dao: xa vời.

Tuesday, October 1, 2013

Đại Việt thắng Nguyên Mông? Bài 26


CHƯƠNG 03 (tt)

VIII/ Đánh Hung- Ba Lan 1241


Bản đồ Hung Nguồn: Hugaria- Geography Department
Hung Gia Lợi là phần đất mà chúa Attila cũng gốc Mông-Thổ tới chiếm năm 430’s[1], rồi làm tan nát Đông Âu một thời. Khi quân Mông Cổ tới Hung, thì đất nước này đang ở trong tình trạng xáo trộn chính trị. Sự xáo trộn này bắt nguồn từ khoảng 60 năm trước khi quân Mông tới, ấy là thời vua Béla III.
Hậu bán thế kỉ thứ XII, nước Hung là một vương quốc rộng lớn, nằm dưới thời vua Béla III. Vua Béla III là một người hay gửi quân theo đoàn thập tự trong cuộc thánh chiến (Crusader[2]) của giáo hội La Mã. Ông có hai hoàng tử: Emeric và Andrew. Vì là em nên Andrew vô phương có thể thay cha làm vua xứ Hung Gia Lợi.
Năm 1188, lãnh chúa Volodymyr II của xứ Halych (hay Galych, Gallich, Galicia), ở ven sông Dniester phía tây Ukraine ngày nay, bị các người dưới quyền lật đổ phải chạy đến Hung, xin vua Béla III cho lánh nạn. Vua Béla bắt vị lãnh chúa giam lại, rồi cho hoàng tử Andrew, 11 tuổi, lên làm lãnh chúa xứ Halych. Tuy nhiên Andrew chỉ làm lãnh chúa trên danh nghĩa mà thôi; ông không bao giờ về lãnh thổ Halych cả. Mặc dù vậy, quân lính của vị lãnh chúa tí hon này vẫn về kiểm soát phần đất ấy.
Không lâu sau đó, Volodymyr II, trốn klhỏi tù trở về Halych đánh đuổi quân Hung trở về nứơc.
Năm 1196 vua Béla III băng hà. Emeric lên ngôi, nhưng đa số tiền tài lại trao cho Andrew để ông tiếp tục theo ý cha đem quân theo đoàn Thập Tự. Andrew dùng tiền của mua chuộc các quận công, nam tước trong xứ cũng như tìm sự ủng hộ từ công tước Leopold V của Austria (Áo). Năm sau, ông đem quân đánh bại vua anh Emeric, ở trận Macsek. Ông vua anh phải cắt đất Croatia, Dlamatia[3] cho Andrew.
Năm 1198, Giáo Hoàng Innocent III, yêu cầu Andrew đem quân theo đoàn thập tự đánh Holy Land, đất thánh nay là vùng Jerusalem. Ông đem quân đi, nhưng thay vì đi sang phương đông, thì ông lại đem quân đánh các nước láng giềng và cuối cùng lập chương trình đánh vua anh. Emeric nghe tin, liền bắt giam hồng y Boleszlo, người đứng đầu trong đám ủng hộ Andrew, đồng thời cách chức các người ủng hộ ông em. Năm 1199 vua Emeric đánh bại Andrew trong trận Rád; ông này phải bỏ chạy sang Áo. Cuối cùng Giáo Hoàng Legate Gregory làm trung gian hòa giải cho hai anh em. Ông anh lại nhường đất Croatia và Dalmatia cho em cai trị.
Sau năm 1200, Andrew lại chiêu mộ binh mã theo lời vợ, rồi tiến quân định đánh anh lần nữa. Emeric nghe tin binh lính của Andrew đông hơn quân của ông nhiều. Ông đầu đội vương niệm, tay cầm vương trượng (gậy có cẩn ngọc cho nhà vua mà thôi), rồi đơn thân, độc mã sang trại binh của ông em. Ông em cảm phục cái hào hùng của anh và xin đầu hàng.
Chẳng bao lâu sau, Emeric bị bệnh nặng, mà con là Ladislaus còn nhỏ. Ông cho vời Andrew vào và nhờ cậu em làm phụ chính giúp hoàng tử lên ngôi sau này. Năm 1204, vua Emeric băng hà. Andrew giúp Ladislaus lên ngôi và làm phụ chính, nhưng lấy hết tiền của anh cho vào quỹ trên danh nghĩa Ladislaus. Hoàng hậu, vợ vua Emeric sợ cho số mệnh của ấu quân, nên đem ấu quân chạy trốn sang Áo lánh nạn ở lâu đài công tước Leopold VI. Andrew liền chuẩn bị binh mã đánh Áo, nhưng chỉ vài tháng sau thì Ladislaus cũng từ trần. Andrew chính thức lên ngôi.
Ngay sau khi ấy, Andrew rất cởi mở, việc đầu tiên là tặng không các bất động sản của hoàng gia cho các người ủng hộ ông. Ông đặt tên cho công việc này là chính sách novæ institutiones (chính sách mới). Người ta không giải thích tại sao ông lại hành động như vậy, nhưng rất có thể là ông biết nhiều người trong đám nam tước, bá tước không ưa nên đã ban hành chính sách ấy để làm thỏa mãn đối tượng.
Ngoài chính sách cho không trên, ông còn chịu ban hành luật Golden Bull, mà trong đó có nhiều điều kiện nhún nhường giới quý phái. Chẳng hạn như các nam, bá tước, đại diện giáo hội hay cố vấn có quyền ngồi gần nhà vua. Các người này còn có quyền không tuân lệnh vua, nếu nhà vua làm không đúng với các thỏa thuận từ trước. Tất cả các việc trên đều làm suy yếu quyền năng của nhà vua cũng như đất nước.
Năm 1213, khi Andrew đang dẫn quân sang Halych thì vợ ông bị ám sát. Lúc về ông cho hành hình người chủ mưu nhưng tha tất cả tòng phạm. Điều này làm con ông, hoàng tử Béla, phẫn uất. Tuy nhiên, năm sau ông vẫn phong cho cho Béla làm tiểu vương cai quản vùng Croatia, Dlamatia.
Khoảng năm 1216, ông lãnh đạo thập tự quân sang Trung Đông, với sự tham dự của nhiều tiểu quốc, nhưng không có kết quả vì súng công thành không tới đúng hẹn. Trên đường về, ông ghé lại đế quốc Nicaea thăm hoàng đế Theodore I Laskaris và Tsar (vua) Ivan Asen II của Bulgaria. Nhân đó, ông dàn xếp vài cuộc hôn nhân cho các con của ông và đặc biệt cho Béla.
Nhưng  In 1220, Béla đã cưới Maria Laskarina, công chúa con vua Theodore I Laskaris của xứ Nicaea. Năm 1222, Andrew về đến Hung, ông thuyết phục Béla bỏ vợ để cưới người mà ông đã dàn xếp trên đường đi thập tự hành quân về. Giáo Hoàng Honorius III, chống đối và tuyên bố cuộc hôn nhân bất hợp lệ; vì vậy Béla đem vợ chạy trốn sang Austria, vì sợ vua cha giận. Cuối cùng, qua sự trung gian của Giáo Hoàng, vua Andrew II và Béla đã giải hòa. Một lần nữa Béla lại làm lãnh chúa vùng Slavonia, Dalmatia and Croatia.
Lúc này, Béla đã lớn, lại có Giáo Hoàng chống lưng, ông ra lệnh lấy lại tất cả ruộng đất, nhà cửa… từ các giới quí tộc mà vua cha đã ban cho họ. Nam tước cổ thành Klis ở Croatia (vùng thuộc Nam Tư) không chịu; ông liền đem quân vây; vị nam tứơc phải đầu hàng.
Năm 1223, sau khi bị bại trận Kalka, Koten dẫn 40000 vừa dân vừa lính của Cuman chạy từ phía bắc biển Bắc Hải vào vùng Transylvania, để tránh Mông Cổ.
Vua Andrew II không chấp nhận việc làm của Béla. Năm 1226, vua Andrew II thuyên chuyển Béla làm lãnh chúa vùng Transylvania, rồi đem người em của Béla là Coloman thay thế Béla cai quản vùng Slavonia, Dalmatia and Croatia. Tại Transylvania, Béla phải dàn xếp với đám loạn quân, khó trị Cumans. Vì chuyện lấy lại tài sản từ giới quý tộc, nó gây tai hại đến uy tín của ông ở giáo hội, vì rất nhiều người chống đối ông. Bây giờ ông lại phải đối phó với giáo hội. Ông tìm đến đám Cumans đang định cư, yều cầu họ cải theo đạo Thiên Chúa. Nếu làm như vậy ông sẽ bảo vệ họ và để họ làm ăn bình an trong vùng này. Kết quả, hai người trong đám cầm đầu là Bartz và  Membrok đã rửa tội. Nhờ vậy uy tín của ông đã tăng lên ở giáo hội.
Đến năm 1228, Béla và em là hoàng tử Coloman lại thuyết phục vua cha Andrew II lấy lại các tài sản đã ban cho các nam, bá tước mà trước đây họ có dính líu đến vụ ám sát mẹ hai ông.
Năm 1235, vua Andrew II băng hà; Béla chính thức lên ngôi vua Hung, và muốn làm tăng thêm quyền năng của triều đình cùng sức mạnh quốc gia đối với các tiểu quốc chung quanh. Một trong các việc đầu tiên của ông làm là lấy lại các tài sản mà cha ông đã cho các nhà quý tộc. Thu hồi sắc luật Golden Bull. Tiếp theo ông đốt tất cả các ghế ngồi của các cố vấn, bá tước…Ông muốn khi họ nói chuyện với ông thì phải đứng, chứ không được ngồi. Tất cả các việc trên làm cho giới quý tộc cảm thấy phẫn uất hơn. Dựa vào quyển “A History of Hungary” thì việc thu hồi tài sản cũng như sắc lệnh Golden Bull đã làm cho vua Béla trở thành một nhân vật tồi tệ nhất trong lịch sử Hung Gia Lợi.
Cùng năm ấy, vua Béla ra lệnh cho Dominican Friar Julian hướng dẫn một nhóm giáo sĩ gồm ba người sang miền đông thuộc Nga để tìm những người Magyar còn sống rải rác bên ấy. Magyar là người gốc Hung cổ không theo đạo Cơ Đốc. Việc của phái đoàn này là đem nhóm Magyar trở về Hung rồi cải đạo cho họ thành Cơ Đốc giáo. Đoàn này đến Nga thi nghe tin Mông Cổ tàn phá miền bắc của Caspian, nên quay về báo tin cho Béla biết trước mà phòng ngừa một cuộc tấn công đẫm máu. Theo quyển “A History of Hungary” thì toán người này đã gặp nhóm Magyar năm 1236, nên họ về báo lại cho vua Béla. Năm sau 1237, nhóm này sang Nga lần thứ hai và khi đến nơi thì nhóm Magyar này đã bị Mông Cổ tiêu diệt. Dominican Friar Julian vội vàng đem nhóm giáo sĩ quay về Hung báo tin


[1] Đây là cách viết tắt thập niên từ năm 430 đên năm 439.
[2] Các cuộc crusade thường nhắm vào đạo Hồi (Muslims). Tuy nhiên nó cũng còn đánh vào các người Slavs vô thần, Do Thái Giáo (Jews),  Orthodox Christians của Nga và Hy Lạp.































































 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


 
 














Monday, September 30, 2013

Lý Bạch: Túc Ngũ Tùng sơn hạ Tuân ảo gia


Túc Ngũ Tùng sơn hạ Tuân ảo gia

 

我宿五松下,                       

Ngã túc ngũ tùng hạ
寂寥無所歡。                       

Tịch liêu vô sở hoan .

田家秋作苦,                       

Điền gia thu tác[1] khổ

鄰女夜舂寒。                       

Lân[2] nữ dạ thung[3] hàn .

跪進雕胡飯,                       

Quỵ[4] tiến điêu[5] hồ phạn

月光明素盤。                       

Nguyệt quang minh tố[6] bàn

令人慚漂母,                       

Lệnh nhân tàm[7] phiêu[8] mẫu

三謝不能餐。                       

Tam tạ bất năng xan[9] .

李白                Lý Bạch
Ngủ trọ dưới chân núi 5 cây Tùng

Hôm nay ngủ dưới Ngũ Tùng.                                            

Làng cô, xóm tịnh, lạnh lùng chẳng vui.                 

Đàn ông cầy cấy ngậm ngùi.                                    

Đàn bà xay, dã chôn vùi thâu đêm.                          

Bà già dưng chén cơm lên.                                      

Đơn sơ, trăng tỏa bên trên mặt bàn.                        

Lòng tôi xấu hổ muôn vàn.                                      

Không ăn, cảm tạ thở than vài lời.   

VHKT

                        

Tôi nghỉ chân Ngũ Tùng.                 

Cô tịch lại lạnh lùng.

Đàn ông cầy vất vả.

Đàn bà xay đêm cùng.

Bà già dâng cơm chén.

Trăng chiếu bàn mung lung.

Lòng tôi thấy xấu hổ.

Cảm tạ mà không dung.

VHKT- 2008 




[1] Tác: làm việc.
[2] Lân: lân cận.
[3] Thung: giã (gạo)
[4] Quỵ: 1. quỳ gối. 2. chân cua
[5] Điêu: 1. khắc, chạm. 2. chim diều hâu, con kên kên.
[6] Tố: 1. tơ trắng. 2. trắng nõn. 3. chất.
[7] Tàm: tủi thẹn.
[8] Phiếu: 1. tẩy vải cho trắng. 2. thanh lịch, lịch sự. Phiêu: trôi nổi.
[9] Xan: 1. Ăn. 2. bữa cơm

Friday, September 27, 2013

Thơ Bạn đọc: Tìm lại lần nữa

Tìm lại lần nữa

 
Ta lại tìm nhau cái thuở nào.
Nghìn trùng chia cách tưởng chiêm bao.
Anh đến rồi đi không luyến tiếc.
Để laị cho em những dạt dào.
Có lẽ anh theo một khối tình.
Quên người em nhỏ tuổi đang xinh.
Lối cũ hôm nào sao xa vắng.
Tin về bằng bặc vẫn im thinh.
Giây phút gặp nhau chuốc ngậm ngùi.
Chỉ trong gang tất mắt xa xôi.
Anh về xa vắng ôm thương nhớ.
Hiu hắt em đi mắt lệ rồi.
Dã tràng xe cát quên ngày tháng.
Biển Đông sóng vỗ chẳng xuôi hàng.
Để lại tình ta rồi mãi thế.
 
Lần nữa đời nhau nỗi bẽ bàng
Nắng Khuya
 

Thursday, September 26, 2013

Những bức tranh đắt tiền nhất thế giới

3. Suprematist Composition, 1916
Chân dung tự vẽ

Kazimir Malevich là một hoa sĩ góc Kiev thuộc Nga và Liên Xô, hiện nay thuộc Ukraine.

Ông sinh năm 1879 tại đế quốc Nga vàmất năm 1935.
Kazimir Malevich
Suprematist Composition, 1916

Bán $60 triệu dollars năm 2008
 


Tuesday, September 24, 2013

Đại Việt thắng Nguyên Mông? Bài 25

CHƯƠNG 03 (tt)

D- Đánh Vladimir- Suzdalia- Novgorod.

Bây giờ đến mục tiêu kế tiếp là lãnh địa của Yuri II.

Trang 66 quyển The History of Nations Russia đã thuật lại theo Novgorod Chronicle phần sau. Những kẻ tà giáo vô thần Tartars lại tiến đến Volodimir    (Vladimir) để lột da, lấy máu những người theo Cơ Đốc giáo. Yuri II bỏ thành Volodimir chạy lên Yaroslavl, trong lúc con trai của ông là Vsevolod cùng mẹ và tất cả hoàng tộc cùng các “vladyka” (người quý tộc), đóng cửa thành chống cự.

Một buổi sáng, Vsevolod và vladyka Mitrofan nhận ra rằng họ không còn tia hi vọng nào, nên đành rút vào nhà thờ Holy Mother of God (Mẹ Thiêng Liêng của Chúa). Thành phố bấy giờ đã ngập trong khói lửa, nhiều thường dân cũng chạy vào nhà thờ trú ẩn nơi chứa các dụng cụ hành lễ. Những kẻ sống ngoài vòng pháp luật chất củi đốt cháy rụi ngôi nhà thờ cùng những kẻ trốn bên trong.

Cùng khi ấy một đoàn quân Mông Cổ khác đuổi theo Yuri II. Tại Yaroslavl, Yuri II cho Dorozh đem 3000 quân ra ngoài trinh sát. Chỉ một thời gian sau, Dorozh chạy về báo: Thưa Lãnh Chúa; chúng nó đã bao vây chúng ta. (They have already surrounded us, knayaz.) [1]Yuri II cho lệnh tập trung quân đội, nhưng quá trễ. Quân Mông Cổ đã xuất hiện! Vị lãnh chúa này chỉ còn cách phóng lên ngựa chạy. Đến bờ sông Sit[2] thì quân Mông Cổ bắt kịp và kết liễu mạng ông ta.

Bản đồ Nga ngaỳ ấy
Số mạng các thành phố khác: Rostov, Suzdale cũng cùng kết quả. Quân Mông Cổ quay về  tàn phá Moscow, Preeyaslasl, Yurev, Dmitrov, Volok và Tver. Hai lãnh địa Riazan và Suzdalia hoàn toàn dưới sự khống chế của Mông Cổ. Họ quay sang phần lãnh địa của Novgorod.

Dân chúng nơi này quá khiếp hãi sự tàn ác, hung hăng của Mông Cổ. Thành đầu tiên chúng nhắm tới ngay cạnh biên giới. Đó là thành phố Torzhok. Tất cả mọi người từ già trẻ trai gái đều nỗ lực chống lại quân xâm lược. Mông Cổ cũng dùng chiến thuật chất củi, cây vây quanh thành tấn công liên tiếp hai tuần lễ. Dân nơi đây đã kiệt lực và chán nản vì không có quân tiếp viện từ thành phố Novgorod. Cuối cùng Mông Cổ cũng hạ đựơc thành vào dịp lễ Phục Sinh, rồi tàn sát tất cả đàn ông cùng một số đàn bà. Đội quân tàn ác này tiếp tục, chém giết người như cắt cỏ, trên con đường đánh chiếm dài đến 100 versts (khoảng 100 km).

Quyển History of Nations Russia, trang 67, thuật lại Novgorod Chronicle không nói tiếp chiến cuộc ra sao, nhưng viết tiếp: Sự trừng phạt của Thượng Đế trên toàn thể đất Nga mà không thương xót sao? Thượng Đế để cho kẻ vô thần dày vò trên tội lỗi của chúng ta. Thượng Đế đem kẻ ngoại bang vào đất nước ta trong sự bực tức của ngài và rồi chúng ta bị nghiền nát bởi các kẻ ấy. Họ sẽ nhắc nhở nhớ đến Thượng Đế… (God’s infliction on the whole Russian Land, does not lament? God let the pagans on us for our sins. God brings foreigners on to the land in his wrath and thus crushed by them, they will be reminded of God…)

Trong quyển “Russia and the USSR” thì đưa ra một kết luận bớt thảm khốc hơn.

Trong hai tuần vây hãm Torzhok nhưng thành vẫn không bị hạ. Bây giờ mùa xuân đã tới, nước băng tan dần, đất đai ướt sũng bùn lày khắp nơi. Kị binh Mông Cổ không còn hiệu nghiệm. Batu và Subutai đành cho quân quay về phương nam tàn phá lãnh địa Chernigov, nhưng cố tránh các thành trì kiên cố. Một chuyện bất ngờ, đạo quân của thành Kozelsk đem quân chặn đánh đội tiền đạo Mông Cổ và làm tổn thất cho đạo quân này. Quân Mông Cổ liền bao vây thành  Kozelsk. Theo Wikipedia thì vị hoàng tử trẻ tuổi can đảm Visily chống cự trong 7 tuần lễ và giết 4000 quân xâm lược, nhưng thành phố đã bị quân Mông Cổ gán cho thành phố một  cái tên không mấy đẹp; ấy là “City of Sorrow” (Thành phố của buồn thảm).

Có lẽ đã chán ngấy với máu và chiến đấu. Quân Mông Cổ lui về thảo nguyên phương nam vào mùa hè 1239 để cho quân sĩ nghỉ ngơi trên các cánh đồng xanh mát.

Theo Russia.com và Indopedia thì dù Novgorod thoát khỏi cuộc xâm lăng của Mông Cổ, nhưng xứ này vẫn phải nộp cống để tránh cuộc xâm lăng khác.

E- Đánh Kiev.

Mùa hè năm sau, Batu và Sabutai lại cho tiến quân về hướng Kiev. Sau khi đánh phá các thành trì trên đường thì mùa đông cũng đến, lợi dụng sông Dnieper đóng băng quân Mông Cổ lại vượt sông tấn công Kiev.

Mông Cổ lại cho sứ giả vào thành gọi đầu hàng.

Kiev lúc này nằm trong sự kiểm soát của xứ Gallich và người quản lý thành phố là do Daniel của Gallich chỉ định. Khi các sứ giả Mông Cổ tới, lãnh chúa Daniel ra lệnh giết các sứ giả. Việc này làm cho Batu quyết chí tiêu diệt Kiev.
Khi quân Mông đến bao vây thành phố, dân thành phố không còn đường trốn chạy. Stephen Turnbull đã dựa vào các cổ sử ghi lại ở trang 48, quyển “Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190-1400”, đọan sau: Quân Thát Đát đã bao vây thành phố. Không một ai có thể ra hay vào thành. Tiếng kẽo kẹt của xe kéo, tiếng rống của lạc đà, tiếng kèn, trống, tiếng hí của ngựa và tiếng than khóc của những đám đông không đếm nổi làm cho không còn thể nghe được ngừơi này gọi người kia trong thành. (The Tartar force besieged it and it was impossible either to leave ir to enter it. Squeaking of wagons, bellowing of camels, sound of trumpets and organs, neighing of horses, and cries and sobs of an innumerable multitude of people made it impossible to hear one another in the city.)
Sau vài đợt công hãm, tường thành sụp đổ và quân Mông tràn vào. Cuộc chiến tiếp tục trong các đường phố, trên các đống gạch vụn. Dân chúng xây các tuyến phòng thủ mới quanh nhà thờ Virgin Mary. Quân Mông tàn sát dân chúng làm họ càng hoảng sợ, tranh nhau vào nhà thờ. Số người vào nhà thờ càng lúc càng đông; họ tranh nhau leo lên tháp chuông. Cuối cùng nhà thờ sụp đổ vì sức nặng của giáo dân.
Chiếm xong, quân Mông Cổ tàn phá cướp bóc làm thành phố trở nên kiệt quệ, và không bao giờ phục hồi lại địa vị của thế kỉ X và XI nữa.
Stephen Turnbull đã ghi lại trong quyển sử trên đọan sau:
“Sáu năm sau (1246), Giovanni di Piano Carpini được lệnh Giáo Hoàng đi qua đây đã viết lại: Trên đường đi qua đây, chúng tôi thấy vô số sọ, xương người nằm ngổn ngang trên đất. Kiev đã là một nơi đô hội, đông người, nhưng giờ đây đã trở thành hoang phế. Bây giờ chỉ khoảng 200 ngôi nhà và dân cư hoàn toàn là nô lệ.”



[1] Trích từ trang 66- The History of Nations Russia.
[2] Sông Sit là khúc thượng nguồn của sông Volga.