Wednesday, October 16, 2013

Đại Việt thắng Nguyên Mông? Bài 28

CHƯƠNG 03 (tt)


2. Trận đánh Mohi ở Hung

Tin quân Mông tới, vua Béla IV triệu tập quân đội kể cả quân của Cuman do Koten (Khoten) lãnh đạo.

Ngoài lực lượng chính của vua Béla IV, quân Hung còn có quân của công tước Frederick II Babenberg của nước Áo; quân của hoàng tử Kálmán là em vua Béla, đang làm công tước Slavonia (Slovakia), và tổng giám mục Ugrin Csák dẫn các hiệp sĩ Templar. Theo Wikipedia, All Empires online History hay Military History. About.com thì số quân của Hung tổng cộng chừng 80000, và quân số của Mông Cổ là 70000. Một vài tài liệu khác lại viết số quân của Hung là 15000 quân và quân Mông Cổ ở đây khoảng 30000 người. Vậy con số thực sự vẫn là mơ hồ. Thật ra lực lượng Hung có thể rất lớn, nhưng vì nhiều nam tước, bá tước vốn ghét vua Béla vì chuyện tịch thu lại tài sản, phá bỏ luật Golden Bull, nên không đem quân tham chiến. Họ muốn chứng kiến sự sụp đổ của triều đình Hung trước quân Mông Cổ. Một số khác ở miền Transylvania lại lo bảo vệ địa phương vì cánh quân phương nam của Mông Cổ cùng sự hiện diện của các bô lạc khó trị Cuman.

Ngày 12 tháng 3, năm 1241, quân đội của Subutai và Batu đánh bại đạo quân của tiểu vương Palatine ở đèo Verecke trên dãy núi Carpathian, rồi nhắm Hung tiến tới.

Cùng khi ấy, đám dân Cumans và người địa phương chẳng mấy tin nhau. Người Cumans thì nghĩ dân Hung còn kì thị, bóc lột họ như nô lệ. Người Hung lại nghĩ dân Cumans là tay sai, gián điệp cho Mông Cổ và là nguyên nhân của chiến tranh. Khi thấy Quân Mông Cổ thành công chọc thủng phòng tuyến phương nam, dân Hung ghét đám Cumans vô cùng nên đã giết chết lãnh tụ Koten. Dân Cumans nổi loạn cướp phá giết chóc dân địa phương rồi chạy sâu xuống phương nam thay vì lên Pest hợp với quan vua Béla.

Ngày 15 tháng 3, đội tiên phong của Mông Cổ đã tới Pest[1], đánh phá các vùng lân cận. vua Béla cấm không cho quân đội của ông ra đánh, vì lý do chưa chuẩn bị sẵn sàng. Trong khi ấy, Frederick II, không đếm xỉa đến lệnh ấy, tung quân đánh và thắng vài trận nhỏ. Điều này làm Béla mất mặt vì bị coi như hèn nhát. Sau các trận thắng ấy quận công Frederick II đem quân mình về Áo. Tổng giám mục Ugrin Csák của Kalocsa, thấy vậy cũng noi gương. Ông đem các hiệp sĩ Templar định tấn công quân Mông bất ngờ, nhưng bị vây hãm thật nguy. Sau quân Mông mở một đừơng thì toán quân này chạy thoát nhưng lại bị lừa vào một vùng sình lầy. Kết quả ông cùng đám hiệp sĩ Templar với các giáp trụ nặng nề bị sa lầy và một số may mắn thoát chết, trong đó có vị tổng giám mục.

Sau một tuần di chuyển, vào đầu tháng 4, quân của vua Béla đã đến bờ tây của sông Sajó đang ngập lụt. Ông cho quây các chiến xa làm một tường thành bảo vệ, rồi đóng quân chờ thêm viện binh cùng nhu yếu phẩm. Cùng khi ấy, quân Mông dưới sự chỉ huy của tướng Subutai đến bờ đông con sông này.

Theo Military History. About.com và wikipedia thì ngày 10 tháng 4, một người nô lệ của Mông cổ trốn thoát chạy sang Hung báo tin cho vua Béla rằng quân Mông sẽ tấn công vào đêm trên cầu gần đó. Ông này vẫn không tin đó là một trận đánh quyết định mà nghĩ rằng là đơn vị trinh sát của Mông Cổ thôi.

Các tướng dưới quyền đều trách vua Béla là không chịu ra lệnh tấn công. Chiều tối ngày 10 tháng 4, ông hoàng Kálmán và tổng giám mục Ugrin Csák lại đem quân đánh bất ngờ ở cầu. Họ đi âm thầm trong bóng đêm, nên quân Mông không biết. Vả lại Mông Cổ cũng không thích đánh đêm vì giới hạn của cung thủ cũng như ngựa. Đến nửa đêm thì quân Hung tới cây cầu dài khoảng 200m này. Lúc ấy, quân Mông đang chuẩn bị vượt sông mà không đề phòng việc bị tấn công. Theo dự đoán thì có lẽ Subutai muốn tấn công quân đội Hung lúc bình minh. Hai cánh quân của ông hoàng Kálmán và tổng giám mục Ugrin Csák dùng ná (nỏ) tấn công dữ dội. Mông Cổ bị bất ngờ nên bị các tên từ nỏ bắn thiệt hại nặng nề. Kết quả Mông Cổ bị mất một tướng cấp thấp tên Bakatu. Kálmán và tổng giám mục Ugrin Csák để lại một đơn vị nhỏ để canh cầu; số còn lại trở về trại mở tiệc ăn mừng.


Vì thất bại ấy, Mông Cổ phải đổi kế hoạch tấn công. Subutai liền chia quân làm ba đạo: đạo thứ nhất giao cho Shiban (Sejban) chỉ huy, đi lên phía bắc sông Sajó cách cầu khoảng 4 km, rồi vượt sông, đánh vào hông trái của Hung. Subutai thì đem cánh thứ hai đi về phía nam, và cách cầu trên 5 km. Subutai sẽ cho làm một cây cầu dã chiến để vượt sông. Cánh thứ ba thì do Batu chỉ huy với các vũ khí nặng đánh thẳng qua cầu. Chuyện vượt cầu cũng không phải là dễ vì cầu dài mà hẹp. Hơn nữa tầm bắn của nỏ rất xa làm quân Mông không còn lợi điểm dùng vận tốc của ngựa. Batu liền cho đem súng bắn đá tới. Theo các trang sử viết lại thì đây có lẽ là lần đầu tiên mà người Hung thấy súng bắn đá.  Trận đánh vẫn không có thắng lợi cho Mông Cổ, dù là cánh quân của Shiban đã đánh vào hông của quân Hung. Đến 8 giờ sáng, quân Mông tiến được qua cầu, nhưng bây giờ thì quân Hung được lệnh tấn công, nên quân Béla tràn ngập chiến trường. Kị binh Batu không có thế vì sau lưng là sông. Lính Mông chết nhiều và chính Batu cũng tị nữa mất mạng. Diên trì một thời gian khá lâu vì cho làm cầu, nhưng rồi cầu cũng được làm xong và Subutai cho quân vượt sông. Khi đạo quân này đánh từ dưới lên, thì quân Hung chịu không nổi phải thối lui về trại.
Bây giờ thì Mông Cổ vây hãm với những đợt tấn công bóng rổ. Tuy nhiên họ vẫn không tiêu diệt được địch quân, và cũng bị tổn thất nặng. Subutai liền mở phía tây, quân Hung vội tràn về phía ấy chạy trốn. Đây chính là binh pháp của Tôn Tử: Lúc giặc ở cùng đường đừng đánh mà hãy mở. Vì nếu dồn địch quân vào chân tường thì chúng sẽ chống tới chết. Mở đường thì chúng sẽ chạy, và khi chạy thì ai lo thân nấy hết còn nương tựa vào nhau để sống chết cùng hưởng. Một mặt khác, nếu phía mở mà địch quân không có lợi địa thì thật là một thảm họa cho địch. Quân Hung chạy về hướng ấy phải vượt con sông Hejó, rồi vào cánh đồng lầy. Ngựa của các hiệp sĩ Hung thì bị thương, mà mặc giáp thì quá nặng làm sao mà bơi hay chạy, nên họ đành phải bỏ giáp. Nhưng đây lại là một hiểm họa khác đến với họ. Họ không còn giáp thì làm sao chịu nổi tên hay giáo của Mông Cổ? Kết quả là lính nặng của Mông Cổ cứ cỡi ngựa đuổi theo, rồi dùng giáo xuyên người như xuyên thịt.
Tổng kết trận đánh thì cũng có nhiều con số dị biệt nên wikipedia đã dưa ra con số phỏng định từ 10000 dến 40000 cho Hung và từ số nhỏ đến 1000 cho Mông Cổ. Vua Béla và người em Kalmán chạy thoát[1], nhưng ông hoàng này đã chết sau một thời gian. Tổng giám mục Ugrin thì chết trong đám loạn quân.
Vua Béla chạy sang Áo để tránh nạn thì công tước Frederick II bắt giam lại. Ông này đòi vua Béla phải cắt ba phần đất thuộc Hung để sát nhập vào Áo. Vua Bela không chịu lại chạy xuống phía nam của Hung, đến cổ thành Trogir ven bờ biển Adriatic, một phần đất cuối cùng của Hung. Tại đây, ông cũng đã họp lại với một số nhà quí tộc Hung đã chạy trốn xuống đó.
Sau trận thắng này quân Mông lần lượt đi tàn phá khắp vương quốc này và thảo kế hoạch đánh chiếm La Mã, Đức và Áo. Theo các trang trên Internet thì khoảng ¼ dân chúng Hung bị giết, còn theo “Nations in Transition Hungary” của Raymond Hill thì gần ½ dân Hung đã bị tàn sát.
Mãi năm sau, 1242, chúng đột nhiên rút khỏi Hung. Sự rút lui này cũng gây ra nhiều tranh luận. Số đông thì cho là Subutai nhận được tin đại hãn Ögedai băng hà, nên phải để Batu, Kadan quay về Krakorum dự vào việc bầu một đại hãn mới. Nhưng một số khác lại nói đó là lý do không chính xác. Quân Mông vẫn không kiểm soát được Hung. Dân Hung di tản vào các vùng núi non, đầm lầy, thành trì kiên cố, hay các thành đất được xây trên các đỉnh núi đồi hiểm trở, rồi nổi dạy chống lại họ. Nhiều thành trì xây bằng đá kiên cố mọc lên, quân Mông không làm gì được. Người Hung bây giờ lại dùng chiến thuật du kích làm tổn hại quân Mông, và có lần các hộ vệ của Batu cũng bị lột da. Còn chính Batu đã phải trày vi, tróc vẩy mới thoát chết. Khi họ rút thì bị phục kích trên dãy núi Carpathian.
Nhờ vào sự tái phục hồi các thành trì bằng đá mà người Hung đã đẩy lùi cuộc xâm lăng thứ 2 của Mông Cổ dưới quyền chỉ huy của Nogai (Nogay) cháu cố của Thành Cát Tư Hãn năm 1284.
Quân Mông rút khỏi Hung rồi về lại miền nam nước Nga hiện nay để lập một vùng ngự trị mới gọi là White Horde, và Blue Horde. Cuối cùng, cả hai horde trên nhập lại thành Golden Horde và kinh đô là Sarai (Saray) bên bờ sông Volga (Gần kinh đào Volga-Don ngày nay). Đây cũng là thảo nguyên và còn đẹp đẽ, rộng lớn hơn thảo nguyên Mông Cổ, bao gồm từ Kazakhstan đến phía tây biển Hắc Hải. Khi Őgedei (Oa Khoát Đài), qua đời thì Batu là một ngôi sao sáng để được tuyển làm Đại Hãn, nhưng ông đã từ chối với lý do thích thảo nguyên này hơn Mông Cổ. Vì nếu người nào được bầu làm Đại Hãn thì người này phải trở về thủ đô Krakorum ở Mông Cổ. Tất cả các lãnh địa của Nga, Armenia, Georgia, Circassia, Alans, Crimean Greeks, và các bộ lạc của các dân ở vùng Balkan Bulgars cũng như  Serbs (Nam Tư) phải hàng năm triều cống rất nặng nề cho các chúa Mông Cổ ở Sarai, kể cả Novgorod, nơi quân Mông chưa đánh tới. Golden Horde là một tiểu đế quốc Mông Cổ tồn tại lâu nhất kéo dài mãi cho tới năm 1499.


[1] “Việt Sử Toàn Thư” của Phạm Văn Sơn, trang 246 ghi: “Vua Balé tử trận năm 1241”
 

[1] Thành phố Pest nằm bên bờ đông sông Danube, bên kia bờ tây sông là thành phố Buda. Đến thế kỷ XVII, vua Hung nhập hai thành phố lại lấy tên là Budapest.

Saturday, October 12, 2013

Lý Bạch:Hạ Giang-Lăng

下江陵 Hạ Giang-Lăng 朝辭白帝彩雲間 Triêu từ Bạch-Ðế thái vân gian, 千里江陵一日還。 Thiên lý Giang-Lăng nhất nhật hoàn. 兩岸猿聲啼不住, Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trụ , 輕舟已過萬重山。 Khinh chu dĩ quá vạn trùng san. 李白 Lý Bạch Xuống Giang Lăng Dã từ Bạch Đế, sáng mây bay. Về đến Giang Lăng đúng một ngày. Vượn hú đôi bờ không dứt tiếng. Thuyền qua vạn lý núi cùng cây. VHKT Biệt Bạch Đế trời mai, sương phủ. Đến Giang Lăng vừa đủ một ngày. Đôi bờ vượn hú thật hay. Hàng vạn dặm núi, thuyền này đã qua. VHKT

Khoa hoc

Tuesday, October 8, 2013

Đại Việt thắng Nguyên Mông? Bài 27


 

CHƯƠNG 03 (tt)
B- Poland (Ba Lan) trước năm 1241.
Phần Poland thì không đến nỗi tệ như Hung nhưng cũng có rắc rối biên giới với Đức. Đã thế đám người tự cho tên Teutonic[1] Knight (Hiệp sĩ của dân Teuton) ở phía bắc Poland và phía tây Lithuania được giáo Hội La Mã ủng hộ cũng gây nhiều phiền phức cho đất nước này. Ngay trước khi Mông Cổ xâm lăng thì Poland có các cuộc chiến tranh với Đức trong các năm 1228 và 1233, rồi với Teutonic knight năm 1237.
Theo “Poland An Illustrated History” của Iwo Cyprian Pogonowski thì cùng khi Teutonic Knight gây phiền toái cho Poland ở đông bắc, thì ở đông Nam quân Thát Đát còn làm nguy hiểm hơn.
C- Nguyên nhân.
Như phần trên viết, sau khi bị đánh bại trên sông Kalka năm 1223, tàn quân Cuman tháo chạy về phương tây, định cư ở nam phần của vương quốc Hung.
Sau khi chiếm được Kiev, Batu đòi vua Hung Béla đem các người thuộc bộ lạc Cumans giao lại cho họ. Vua Hung đã hứa bảo đảm cho họ nên không thỏa mãn yêu sách này.
Như ta đã biết, đây cũng chỉ là một chiêu bài để gây hấn của kẻ mạnh. Lúc nào Mông Cổ cũng chỉ đưa ra các sứ giả đòi hỏi việc này, việc kia, rồi cuối cùng bằng cách nào đi nữa họ cũng đánh đối tượng.
D- Trận đánh.
Batu liền cho động quân. Subutai chia lực lượng Mông Cổ thành ba cánh. Tùy theo tài liệu, sự phân chia này có vài khác biệt.
Theo một số tài liệu trong đó có vài diễn đàn trên website nói cánh thứ nhất do Khadan (Kadan) và Yüyük, đều là con của Đại Hãn Ogodai[2] (Oa Khát Đài) điều khiển đánh lên phía bắc vào Poland (Balan). Hai cánh kia do chính Subutai điều khiển, đánh đến Hung.
Một số tài liệu khác trong đó có quyển “Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190-1400.” lại viết cách mà chúng tôi thấy hợp lý hơn về phương pháp chia quân, tuy nhiên về số quân thì vẫn là một dấu hỏi. Theo đó Subutai chia quân làm ba.  Đến cách phân chia các người cầm đầu các cánh quân lại không hợp nhau. Một số sách viết: quân đoàn I, do Khadan điều kiển, gồm 3 tjumen đánh lên Lithuania rồi tràn sang Poland. Cánh này có nhiệm vụ chặn quân tiếp viện từ Poland đến. Quân đoàn II do Yüyük chỉ huy, cũng gồm 3 tjumen đánh xuống phía nam vào lãnh thổ Transylvania, nơi các bộ lạc Cumans tị nạn. Trong khi ấy quân đoàn III chủ lực do chính tướng Subutai và Khan Batu chỉ huy vượt dãy núi Carpathian, đánh vào Hung. Trong khi ấy Stephen Turnbull lại viết về cách chia quân và tướng điều khiển như sau: Batu có đại tướng Subutai vượt dãy Carpathian. Batu cho Baidar và Kaidu con của Chagatai đem quân lên Ba Lan và cho Kadan đem quân xuống Transylvania.
Theo History Forum đã viết rằng có tài liệu mới phát hiện năm 1965 trên “Historia Tatororum” của Franciscan C de Bridia Monachi. Tài liệu này lấy từ các tư liệu của các thành phần tham dự của Mông Cổ, chỉ sau vài năm có trận đánh. Dứơi đây là phần dịch nguyên văn từ Anh ngữ trên diễn đàn ấy:
Tiếp theo Batu tiến quân tới Ba Lan và Hung. Tại biên giới của hai nước, Batu chia 10 ngàn quân cho em là Ordu để đánh sang Ba Lan … …” (Next Batu went to Poland and Hungary and having divided the army on the border of these two countries, he sent 10 thousands of warriors under his bother Ordu against Poland…)
Như vậy các sử cũng còn nhiều thiếu sót.
1. Trận đánh Legnica ở Ba Lan
Ta cứ chấp nhận Ordu hay Khadan đem quân lên đến Lithuania đánh phá khắp nơi, không lực lượng nào cản nổi. Khi đến bờ biển Baltic, Khadan chia lực lượng của mình ra làm 2. Một tjumen đánh ngược lên hướng bắc vào địa phận Teutonic Knight, còn 2 tjumens khác thì chính Khadan hướng dẫn đánh phá về phía tây sang Ba Lan.
Quân Mông Cổ vượt đến tận sông Vistula (Wisla) đánh phá các thành phố Sandomierz, Zawichost, Lublin. Một số các hiệp sĩ can đảm của Malopolska tụ tập lại chặn đánh quân Mông tại Cmielnik, nhưng tất cả bị tiêu diệt. Theo sách của Stephen Turnbull thì lúc đến gần Krakow, quân Mông rút lui vì hài lòng với các chiến lợi phẩm. Nhưng ngay khi ấy, họ nghe tin thủ lãnh Boleslaw the Chaste[3] của Krakow đã cùng gia đình chạy trốn. Quân Mông lại vào thành mà không cần đánh. Sau đó, chúng tiếp tục tiến đến Bytom và quay về định bao vây thành quan trọng Wroclaw. Quân Mông phải vựơt sông Oder tại Ratibor bằng bè, nhưng số bè không đủ nên một số phải bơi qua sông. Tại đây họ bị quân dân thành phố này đẩy lui[4]. Đang loay quay định tấn công tiếp, thì họ được tin của thám mã cho biết vua Wencelaus I, nước Bohemia, dẫn một đạo binh gồm 50000 người đang tiến về phía họ. Trong cùng thời gian thì một cánh quân khác do công tước Henry II the Pious (Người ngoan đạo) của Silesia cũng đang tiến lên để gặp Wencelaus I.
Thấy cơ hội có thể tiêu diệt được lực lượng của công tước Henry II, quân Mông Cổ tiến thật nhanh về phía Legnica (Liegnitz) chặn đường.
Về quân số của đạo quân này cũng nhiều trái ngược. Theo History Forum viết lại dựa theo các tài liệu cổ Annals của Jan Dlogsz thì quân Henry gồm năm đạo quân chia ra như sau:
a.       Đạo này gồm Hiệp sĩ, Thập Tự quân Giáo Hoàng gửi tới và tình nguyện quân cộng thêm các thợ mỏ ở Ziotoryja.
b.      Đạo quân thứ hai này thì gồm các hiệp sĩ Cracow và Wielkopolska.
b.      Đạo thứ ba là các hiệp sĩ xứ Opole.
c.       Đạo quân thứ tư gồm các hiệp sĩ xứ Prussia, các thầy dòng, và hiệp sĩ các xứ lẻ tẻ.
d.      Đạo quân cuối cùng là do chính công tước Henry điều khiển gồm các hiệp sĩ, nam tước, bá tước của các xứ Silesia, Wroclaw và Wielkopolsk, cùng một số lính đánh thuê.
Theo quyển “Poland An Illustrated History” thì lực lượng này còn có Knights of the Templar (các hiệp sĩ hội thánh giảng đạo bằng gươm) và Teutonic Orders. Tuy nhiên, ta thấy vô lý vì Teutonic Orders và Ba Lan mới xung đột, và nhiều tài liệu khác công nhận không có lực lượng này.
 Tất cả lực lượng này ít hơn số quân của Mông Cổ.
Trong khi ấy trên Wikipedia thì ước lượng số quân Ba Lan là từ 2000 đến 25000 mà họ dựa vào các nhà sử gia hiện tại đã đưa ra đó là Marek Cetwinski và Gerard Labuda. Một số khác lại nói con số ấy lên tới 40000.
Ngày 9 tháng 4, 1241 hai bên gặp nhau trên bờ sông Nysa thuộc Legnica (Liegnitz), tây nam của Ba Lan gần biên giới Tiệp Khắc ngày nay.
Về trận đánh thì hầu như tất cả các tài liệu đều viết như nhau.
Phía Ba Lan chia ra làm 4 cánh:


a.       Cánh tiên phong điều khiển bởi bá tước Moravian Boleslaw.
b.      Cánh thứ 2 và 3 tiếp theo là hai đơn vị của Sulisaw và hoàng tử Opolan Mieszko. Nhiệm vụ của mỗi đơn vị là bảo vệ một bên sừơn.
c.       Cánh thứ tư do chính công tước Henry II, điều khiển làm tổng trừ bị đi đoạn hậu
 
Quân Mông Cổ cũng chia làm 4 cánh.
a.       Một cánh tiên phong đi đối diện với cánh chính của Ba Lan.
b.      Hai cánh kế tiếp đi phía sau và hai bên. Tuy nhiên, hai cánh này đi bọc xa hơn, lẫn vào các rừng cây, khiến địch không phát hiện được.
c.       Cánh tổng trừ bị do Ordu cầm đầu, đi sau cùng.
Khi vừa thấy nhau, quân Ba Lan do bá tước Moravian Boleslaw cầm đầu, phóng tới tấn công trước. Đạo quân này đánh rất hăng, làm quân Mông Cổ phải thoái lui. Nhưng vừa khi ấy hai cánh quân trái và phải của Mông Cổ tiến lên khép vòng vây làm đạo quân tiên phong của Ba Lan nằm trong rọ.
 

Lập tức, quân Mông Cổ dùng mưa tên, gồm cả tên lửa bắn chặn hai cánh bên của Ba Lan, không cho vào tiếp viện. Tuy bị bao vây nhưng đạo quân của Bolesaw (Boleslav), không chịu lui. Đột nhiên từ đâu ném tới các hòn đá to như trái bắp, nóng như lửa, hợp với tên dày đặc như mưa, ấy là quân Mông bắn đá lửa.
Trong đạo quân này của Ba Lan có rất nhiều người không mặc áo giáp, nên bị thương. Cánh tiên phong của Ba Lan hầu như bị tiêu diệt và chủ tướng là quân công Bolesaw đã hy sinh trong đợt này.
Hai cánh bên của Ba Lan đánh thật dũng mãnh tiến lên. Quân Mông Cổ lại bị đẩy lui trở lại.
Tranh vẽ của Matthäus Merian Starszy 1593-1650
Mô tả lại trận Legnica- lúc Mông Cổ đã đưa đầu Henry II.
Lập tức, quân Mông Cổ dùng mưa tên, gồm cả tên lửa bắn chặn hai cánh bên của Ba Lan, không cho vào tiếp viện. Tuy bị bao vây nhưng đạo quân của Bolesaw (Boleslav), không chịu lui. Đột nhiên từ đâu ném tới các hòn đá to như trái bắp, nóng như lửa, hợp với tên dày đặc như mưa, ấy là quân Mông bắn đá lửa.
Trong đạo quân này của Ba Lan có rất nhiều người không mặc áo giáp, nên bị thương. Cánh tiên phong của Ba Lan hầu như bị tiêu diệt và chủ tướng là quân công Bolesaw đã hy sinh trong đợt này.
Hai cánh bên của Ba Lan đánh thật dũng mãnh tiến lên. Quân Mông Cổ lại bị đẩy lui trở lại.
Trong khi hai bên đang hỗn chiến và Mông Cổ bị núng thế, thì đây đó, trong giữa trận có tiếng hét bằng tiếng Ba Lan : “Chạy! Chạy!”. Tất cả đạo quân của Meiszko cùng nghĩ là tiếng đồng đội. Thế là quân Ba Lan đột nhiên hỗn loạn, rút chạy. Quận công Henry liền ra lệnh cho toán trừ bị, tinh nhụê nhất của ông tiến lên. Đạo quân này xông vào đánh bật quân Mông Cổ trở lại lần nữa.
Ordu lại lập tức cho đạo quân từ bị lâm trận. Trận đánh lại tái diễn thật dữ dội. Trong đám quân Mông Cổ có một người cầm một dấu hiệu chữ “X” thật to và trên có cá chùm gai lớn. Các chiến sĩ Ba Lan đánh thật hăng làm quân Mông Cổ rơi vào thế hạ phong. Chúng rút lui khoảng 100 bước, thì cái dấu hiệu chữ X kia đột nhiên rung động dữ dội; rồi từ các móc gai phun ra các đám khói. Khói này ngửi thật hôi tanh, làm lính Ba Lan bị xỉu, không còn sức chiến đấu.
Theo cổ sử Annals của Jan Dlugosz (viết vào thế kỉ thứ XV) thì Mông Cổ dùng bùa phép để đánh nhau. Còn theo các tài liệu sử mới thì Mông Cổ đốt phân ngựa, bò trộn với diêm sinh, dầu hỏa để làm đối phương không thấy và khó thở. Có lẽ lính Mông Cổ đã ngửi quen mùi nên không bị ảnh hưởng mấy[1].
Lúc này, quân Mông đã kiểm soát trận đánh. Quận Công Henry vẫn bám với đạo quân của ông mặc dù con ngựa của ông bị thương; đầu đã gục xuống. Khi ông đưa kiếm lên để chém một địch quân, thì một tên khác dùng giáo đâm vào nách của ông. Ông ngã xuống khỏi ngựa. Quân Mông lôi xác ông vài trăm bộ làm giáp, trụ quần áo văng ra hết. Chúng chặt đầu ông rồi đem cắm lên một ngọn giáo. Quân Ba Lan thấy vậy bỏ chạy hết.
Sau khi trận đánh kết thúc, quân Mông thu lượm chiến lợi phẩm. Chúng muốn biết đã giết bao nhiêu địch quân, nên cắt tai phải của các người Ba Lan tử trận, bỏ vào 9 túi đầy. Chúng đem đầu của quận công Henry II đến thành Legnica, bắt thành này đầu hàng. Quân dân thành không chịu, và cho chúng biết còn rất nhiều nam tước, bá tước khác sẵn sàng chiến đấu. Chúng bèn tàn phá các làng phụ cận, xong chạy về phương nam để gặp đại quân của Batu và Subutai ở Hung.


[1] Người Mông Cổ có thói quên đốt phân thú phơi khô để sưởi ấm trong nhà.
 


















[1] Giống dân Đức sống phía bắc Âu Châu.
[2] Ogodai (Ogedai) lúc ấy đã được hội đồng thủ lãnh các bộ lạc Kuriltai bầu lên ngôi Đại Hãn thay cho Thành Cát Tư Hãn qua đời năm 1227, lúc đang đánh Tây Hạ lần thứ 2.
[3] Chaste: có nghĩ là trinh bạch, trong trắng, tao nhã.
[4] Theo Stephen Turnbull thì dân nơi này tự đốt phá thành phố trước khị quân Mông tới.

 

Monday, October 7, 2013

Những bức tranh đắt tiền nhất thế giới 2


4. Rideau, Cruchon et Compotier, của  Paul Cézanne

Paul Cézanne là một họa sĩ người Pháp, sinh năm 1838 mất năm 1906.
 
Paul Cézanne
Rideau, Cruchon et Compotier, 1894

Bán $60.5 triệu dollars năm 1999
5. Willem de Kooning một họa sĩ phái trừu tựong, Mỹ gốc Hòa Lan sinh năm 1904 mất năm 1997.
 
Willem de Kooning Police Gazette, 1955
Bán $63.5 triệu dollars năm 2006
6. Wang Meng
Wang Meng (王蒙- Vương Mông) Họa sĩ Trung Quốc, sinh sống trong đời Nguyên, 


Bán 62.2 triệu năm  2011- Hiện Giá 64.1 triệu







Sunday, October 6, 2013

AJANTA: tượng Phật thiêng xuyên núi

Bài viết này nhận được từ bạn Nguyễn Dình Cường- cựu GS Hán Việt TH Cao Lãnh gửi e mail cho tôi
 

AJANTA . Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi.

Đây có thể coi là một trong những di sản lớn nhất về đạo Phật còn lưu giữ được đến ngày nay.

Nằm ẩn mình trong khu rừng rậm hoang vu của cao nguyên Deccan (Ấn Độ), hang động Ajanta đã bị lãng quên trong một thời gian dài.

Vào năm 1819, một nhóm người Anh đi săn cọp trong khu vực này đã tình cờ phát hiện hệ thống hang động Ajanta. Quần thể hang động Ajanta là di tích quý giá đại diện cho thời kỳ Hưng thịnh của Phật giáo tại Ấn Độ.


Ajanta tọa lạc ở lưng chừng núi, bên dưới hang động là lòng vực cùng dòng sông Waghora uốn khúc. Hang động được bố trí theo dạng hình móng ngựa, khoét sâu vào bên trong vách núi đá thẳng đứng cao 76m.

Di tích hang động Ajanta có tất cả 30 hang, bao gồm Thánh đường Phật giáo và các khu phụ cận. Các nhà khảo cổ đã đánh dấu các hang theo số thứ tự.
 
 
 
Dù vẫn còn một số hang vẫn chưa được hoàn thành, Ajanta vẫn là quần thể chùa hang vô cùng lớn trên thế giới do bàn tay con người tạo ra.

Một trong những điểm đặc biệt của quần thể hang động này chính là một số lượng khổng lồ các bức tượng điêu khắc về đạo Phật. Đây được coi là những tác phẩm hội họa đẹp nhất của nghệ thuật Phật giáo.
Ngay những bước chân đầu tiên tham quan quần thể kiến trúc này, du khách có thể bắt gặp những khung cảnh hết sức vĩ đại.
“Mặt tiền” của hang động, hàng dài tượng Phật được đục đẽo bằng tay vô cùng khéo léo ngay trên bề mặt của vách đá, hay cả một điện thờ với những cột trụ vô cùng chắc chắn được tạo nên bởi các nghệ nhân ngay trong lòng núi đá.

Hang số 12 được đẽo trong thời kỳ đầu và được gọi là Tăng viện; đây là nơi sinh sống của những thầy tu ngày xưa.
Họ sinh hoạt và tu hành trong không gian chật hẹp. Các thầy tu dùng bệ đá làm giường ngủ, họ luôn tuân thủ trong quá trình tu hành khổ hạnh theo cách như thế.
Hang số 9 có tên gọi là Tháp viện, là một căn phòng dùng làm nơi cầu nguyện của các nhà tu hành. Tháp viện mang ý nghĩa rất linh thiêng, là nơi tôn thờ thánh tích của Đức Phật.
Thời kỳ này hoàn toàn không có sự hiện diện của các tượng Phật. Vì vậy, Tháp Phật được xem là một biểu tượng linh thiêng để tôn thờ và phụng sự.
Nhóm hang động thứ 2, tượng Phật hiện diện khắp nơi. Có tượng Phật ngồi thể hiện rằng, đã đạt được sự giác ngộ dưới cội bồ đề, xung quanh là sự cám dỗ của quỷ ma.
Trước khi giác ngộ, Đức Phật đã trải qua nhiều giai đoạn tu luyện, tất cả đều được thể hiện qua hàng loạt tác phẩm điêu khắc trong hang.
Có được các tác phẩm tượng Phật đạt đến vẻ đẹp đỉnh cao như thế là nhờ vào các họa sĩ và nhà điêu khắc đã thấm nhuần Phật pháp. Chính họ đã góp phần rất lớn tạo nên giá trị cho quần thể hang động Ajanta.
Từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ VII là giai đoạn phát triển của nghệ thuật Phật giáo tại hang động Ajanta. Đó là những bức bích họa được vẽ trên tường trong hang động.


Có thể nói, nghệ thuật hội họa của người Ấn Độ cổ đại đã đạt đến chất lượng hoàn hảo về màu sắc cũng như bố cục. Các tác phẩm này đã qua cuộc thử nghiệm thành công của thời gian.




Quần thể chùa hang Ajanta là di tích lịch sử lớn nhất thế giới đã được UNESCO công nhận vào năm 1983. Đây có thể coi là một trong những di sản lớn nhất về đạo Phật còn lưu giữ được đến ngày nay.

 
 

Thursday, October 3, 2013

Lý Bạch: Hạ Giang-Lăng


下江陵                              

Hạ Giang-Lăng
朝辭白帝彩雲間           

Triêu[1] từ Bạch-Ðế thái[2] vân gian,
千里江陵一日還。       

Thiên[3] lý Giang-Lăng nhất nhật hoàn.
兩岸猿聲啼不住,       

Lưỡng ngạn[4] viên thanh đề[5] bất trụ[6],
輕舟已過萬重山。       

Khinh chu dĩ quá vạn trùng san.
李白            Lý Bạch

 

Xuống Giang Lăng

Dã từ Bạch Đế, sáng mây bay.

Về đến Giang Lăng đúng một ngày.

Vượn hú đôi bờ không dứt tiếng.

Thuyền qua vạn lý núi cùng cây.

                                    VHKT

Biệt Bạch Đế trời mai, sương phủ.

Đến Giang Lăng vừa đủ một ngày.

     Đôi bờ vượn hú thật hay.

Hàng vạn dặm núi, thuyền này đã qua.

                                                VHKT



[1] Triêu:  buổi sáng.
[2] Thải= Thái: 1. tia sáng. 2. rực rỡ, nhiều màu. 3. tiếng hoan hô, reo hò
[3] Thiên: ngàn
[4] Ngạn: bờ.
[5] Đề: hốt, hú.
[6] Trụ: ngừng.