Wednesday, March 12, 2014

Thơ vượt biên II


Lúc 2 giờ 30 sáng ngày 12 tháng 9, tôi nhận thấy Sinh (tài công chính) quá mệt, nên nói:

- Sinh đi ngủ đi em, và tao lái ghe một mình cho.

Sinh lắc đầu:

- Ông ngủ mới đúng đó Sư Phụ. Tui thấy ông không ngủ gì hết.

Tôi cảm thấy thương hai người tài công của tôi. Cả hai em luôn luôn quan tâm tới sự ngủ ngáy của tôi.

Tôi hỏi:

- Mày chấm điểm trên bản đồ như tao được không?

- Đừng nói giỡn chứ Sư Phụ.

Tôi cười, vỗ vai Sinh.

- Vì vậy tao phải thức.

Sinh bước ra sau ghe ngã lăn bên cạnh Canh (tài công thứ hai) ngủ liền tức thời.

Vừa lái ghe tôi vừa ngắm ánh trăng. Đêm đó là đêm 14 tháng 8 âm lịch, nên trăng sáng vằng vặc, và ngày hôm sau là ngày rằm tháng 8. Mặt biển mênh mông, lấp lánh phản chiếu ánh trăng, trông thật đẹp mắt. Tôi bất thình lình nhớ tới ba mẹ tôi: "Chẳng biết đêm nay ba mợ có được một giấc ngủ yên không? Hay đang chập chờn nhìn ánh trăng, mà ruột đau như cắt? Ngày mai là rằm Trung Thu, nhưng nhà cửa lạnh tanh; chắc ông bà nhớ cu Tí, cu Hi và cu Mi lắm."

Tôi bất chợt ngủ thiếp đi, và ngã đâm đầu ra biển. Khi tôi mở mắt, thì phần trên người đã nhô ra khỏi ghe. Tôi vội quơ tay lung tung và chụp được thành gỗ của cái bếp, bên cạnh chỗ lái ghe. Tôi vội lấy ít nước biển xối lên đầu cho tỉnh táo. Thật hú hồn, nếu tôi không lẹ tay thì tôi đã rơi tòm xuống biển, mà không ai hay biết, trong lúc ấy, thuyền cứ thẳng đường đi tới. Đến khi có kẻ nào đó phát giác tôi bị mất tích thì đã quá muộn. Không chừng đã êm ấm nằm trong bụng cá mập.”

Dưới đây là bài thơ nói lại lúc lái ghe vượt biên.

Monday, March 10, 2014

CHIẾN HẠM 1


Vài lời trướckhi vào bài.

Nhân tiện việc Trung Quốc dùng hải quân đe dọa các nước láng giềng và việc mới đây Hoa Kỳ cho hạ thủy  một hàng không mẫu hạm cùng một khu trục hạm, tôi xin đăng một loạt bài tìm hiểu về các chiến hạm. Mục đích loại bài này tìm hiểu sơ qua lịch sử, kích thước cùng hoạt động các nước về các loại tàu chiến. Ta sẽ phớt qua thế nào là khu trục hạm, thế nào phóng pháo hạm…. cùng các cường quốc hải quân có số lượng bao nhiêu.

Khi con người mới xuất hiện trên quả địa cầu thì đã biết chém giết nhau. Con người tìm đến sông hồ biển cả để tìm thức ăn, hay tìm cách vượt qua các chướng ngại vật để tìm nơi sống mới. Vì biết đến nước, con người lại tìm cách chế ra bè, mảng, tầu bè và biết thủy chiến. Lẽ dĩ nhiên các chiến thuyền đã được sáng tạo, thiết kế sản xuất càng ngày càng mạnh và tìm cách khống chế lẫn nhau, tùy theo đà phát triển vũ khí và kỹ thuật. Rồi từ đó người ta đặt tên cho mỗi loại chiến thuyền một tên đặc biệt tùy theo nhiệm vụ và ứng dụng.

Trong thời cổ, cả Đông lẫn Tây đã có ý miện về chiến hạm. Trong thời ấy chiến thuyền chỉ dùng cung, thương hay húc nhau, nên cách thiết kế đơn giản.

Chiến thuyền đông phương. 

Trước tiên ta nói về chiền thuyền Phương Đông, mà nói tới chiến thuyền của các nước Đông Phương thì phải đề cập đến nước tiêu biểu là Trung Quốc cùng Nhật Bản vì hai nước này còn tìm ra được hình vẽ. Trung Quốc là nước lớn nhất và thường xâm lăng nước khác. Nhật Bản là quốc gia đảo nên phải dùng đến thuyền nhiều.

Các nước khác cũng có vài nơi nói tới thuyền bè xâm lăng như trường hợp Sailendra hay Chiêm Thành. Sailendra là một quốc gia nằm trên các đảo của Nam Dương ngày nay, trong thế kỷ thứ VII (7), đã dùng thuyền xâm lăng Thủy Chân Lạp (Nam bộ ngày nay). Chiêm Thành và đại Việt vẫn thường dùng thuyền tấn công lẫn nhau, nhưng ta không thấy nói nhiều. Trên ngôi cổ tự Borobudur được xây trong thời gian này còn một hình chạm trên đá nhìn khá rõ ràng cho ta thuyền chẳng lớn lắm.

Hình chiến thuyền Sailendra

Khi Khmer lập đế quốc từ thế kỷ năm 802 thì đế quốc này và Chiêm Thành cũng có thủy chiến tren sông Cửu Long và Song Tonglé Sap. Vậy chiến thuyền cũng không thể lớn.

Tôi xin nói rõ là các hình đăng đều được rút từ các web site, nhưng không rõ tác giả vẽ hay chụp, trừ trường hợp được ghi rõ là HVo hay VHKT là của tác giả.

Đối với Việt Nam ta thì chỉ có thuyền nhỏ. Ngay như những trận thủy chiến lừng danh trên sông Bạch Đằng vào ba thời Ngô Quyền 938,  Lê Hoàn năm 981, và Trần Hưng Đạo năm 1288 cũng đã nói rất rõ là chiến thuyên ta nhỏ linh hoạt. Tuy nhiên ta chẳng có hình ảnh mô phỏng các chiến thuyền như thế nào mà chỉ có hình vẽ sau này mô tả các trận đánh.




Hình thủy chiến Bạch Đằng 938.

Hình nay cho ta thấy chiến thuyền Việt Nam là các thuyền chèo so với thuyền của thủy quân TQ nhỏ hơn nhiều. Nhưng đây là hình mà họa sỹ đã tưởng tượng mà vẽ nên. Không biết ông họa sĩ có nghiên cứu sử thời ấy hay dưa vào một tài liệu nào ghi rõ kích thước thuyền bè mà vẽ nên hay không. Có thể là họa sĩ cố tình đưa lên hình ảnh của những còn thuyền bé tí, nhưng với lòng yêu nước dạt dào, thêm sự dũng cảm vô biên của quân ta mà thắng được địch chăng?

Đến thế kỷ XVIII (18), Nguyễn Huệ phục kích liên quân Xiêm La- Nguyễn Gia Long ở trận Rạch Gầm, vào vào đêm 19 rạng 20 tháng 1, năm 1785 tiêu diệt 20000 địch quân. Nay ta thấy mẫu thuyền của của Nguỹên Huệ.

Hình chiến thuyền Nguyễn Huệ

Đến thời Gia Long phản công, năm 1801, Gia Long dẫn các đô đốc, đại tướng Lê Văn Duyệt, Võ Duy Nguy, Tống Phước Lương… và các sĩ quan Pháp đánh cửa Thị Nại. Trận đánh này là trận then chốt để giúp Gia Long toại ý chiếm được ngai vàng sau bao nhiều lần cầu viện ngoại bang.

Hình thủy chiến cửa Thị Nại

Căn cứ theo lịch sử thì TQ cũng có các trận đánh thủy chiến. Tuy nhiên, các chiến thuyền đã không được mô tả một cách rõ ràng. Ngay thời Xuân Thu- Chiến Quốc ngàn năm trước Công Nguyên, các nước bắc TQ đánh nhau chí chóe nhưng đa số là bộ binh vì các nước này nằm trong đất liền. Vài trận thủy chiến chỉ xảy ra trên sông Hoàng Hà và Dương Tử, nên thuyền bè không lớn.

Mãi tới sau Công Nguyên, khi nước này chia ba thành Tam Quốc thì một trận đánh trên sông Trường Giang lẫy lừng trong lịch sử là trận Xích Bích (208), giữa Đông Ngô Tôn Quyền và  Bắc Ngụy Tào Tháo. Theo các nghiên cứu thì chuyến thuyền thời này vẫn nhỏ so với thuyền phương tây.

Tất cả hình ảnh của bài viết này đều thu lượm trên các mạng, trừ khi được ghi chú rõ ràng.

Từ thời Đường, TQ xâm lăng Cao Ly và có các trận thủy chiến cũng như sau đó TQ xâm lăng Nhật Bản với đội thủy quân. Nhưng không thấy hình ảnh, hay bài viết nào mô tả lại các chiến thuyền.

Thế kỷ XI, người TQ phát minh ra thuyền đạp chân.

Hình thuyền đạp chân thời Tống
Thong thời người Kim xâm lăng TQ, Nam Tống củng dùng chiến thuyền đánh trả và có nhiều chiến thắng. Đến thế kỷ XIII, người Mông Cổ xăm lăng TQ, Nam Tống và Mông Cổ cũng đã có một trận thủy chiến rất ngoạn mục, nhưng phần thắng trận lại rơi vào tay kẻ chỉ biết cữơi ngựa Hốt Tất Liệt.
Chiến Thuyền Nam Tống
Sau khi, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đánh bại Nguyên Mông, và vì vua thứ ba Minh Thành Tổ cho Trịnh Hòa đóng tàu lớn vượt đại dương. Tôi cố gắng tìm hình ảnh các tàu này vẽ ngay thời ấy mà không thấy, mà chỉ có hình vẽ lại sau này.
Chiến Thuyền thời trung cổ của TQ
TQ mô tả các con tàu này rất lớn, gấp mấy lần các con tàu buồm phương tây, nhưng có thể đó là các con số của sự tuyên truyền mà thôi.

Saturday, March 8, 2014

Các ngôi đền-chùa nổi tiếng 11 (TT)


Angkor Wat, Campuchia(tt)

Vũng Tàu ngày nay cũng thuộc về Phù Nam. Ta hãy xem cái hoang dã của phần đất vào thế kỷ XIII (13) như thế nào. Muốn biết điều ấy, ta đọc một đoạn văn trong quyển Chân Lạp Phong Thổ Ký của Châu Đạt Quan- một người Trung Hoa làm sứ giả cho nhà Nguyên sang Angkor trong phần cuối thế kỷ XIII, tả lại vùng Vũng Tàu ngay nay. Bài này được ông Lê Bắc dịch và đăng trên diễn đàn Viện Việt Học năm 2005.

“Bắt đầu vào Chân-bồ (Tchen-p'ou, Vũng-tàu hay Bà-Rịa) hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm lí, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xê. Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi. Vào nửa đường trong cửa sông, người ta mới thấy lần đầu cánh đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào. Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẩy. Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tựu họp từng bầy trong vùng nầy. Tiếp đó, nhiều con đường giốc đầy tre chạy dài hàng trăm lí. tại mắt loại tre nầy có gai mọc và măng thì có vị rất đắng. Bốn phía có núi cao.

Trong núi có rất nhiều gỗ quí. Vùng nào không có cây là nơi u-tây cùng voi tựu họp và sinh nở. Loại chim quí, loại thú lạ lùng có vô số. Sản phẩm có giá trị là lông chim thằng chài, ngà voi, sừng u-tây, sáp ong. Về sản phẩm thường có cây giáng-chân, đậu-khấu, cây vang-nhựa (họa hoàng), cây cánh-kiến, dầu cây máu-chó (đại phong tử du)…”

Khi vào đến cửa sông Cửu Long để lên Biển Hồ, Châu Đạt Quan lại tả:

“Đoạn, từ Chân-Bồ theo hướng Khôn-Thân (Tây-Nam - 1/6 Nam), chúng tôi đi ngang qua biển Côn-Lôn (K'ouen-Lonen, Poulo-Condór) và vào cửa sông. Sông này có hàng chục ngả, nhưng ta chỉ có thể vào được cửa thứ tư (7), các ngả khác có nhiều bãi cát (8) thuyền lớn không đi được. Nhìn lên bờ chúng tôi thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào, thế nên các thủy thủ cho rằng rất khó mà tìm đúng cửa sông.”

Dựa vào đấy ta có thể hình dung sự hoang sơ của miền Nam Việt Nam thời ấy như thế nào, huống hồ là hồi thế kỉ I. Qủa tình nơi đây đầy rắn.

Trong khoảng thời gian thế kỷ I, tất cả vùng hạ lưu Cửu Long nằm dưới ngự trị của vua rắn Nāga. Và sau đó có sự xuất hiện của một quốc gia tên là Phù Nam (Funan).

Sự thành lập ra nước Phù Nam (Funan) có nhiều huyền thoại. Một trong các huyền thoại ấy được ghi trong sử Bangladesh.

Theo lịch sử Bangladesh, vào khoảng đầu công nguyên, một người lái buôn, mạo hiểm tên Brahmin Kauṇḍinya (có sách ghi là: Hùntián) nằm mơ thấy một vị thánh.  Vị thánh chỉ ông lập nghiệp bằng cách lấy một cây cung thần, rồi đi đến vùng đồng bằng Cửu Long. Người này đã tìm kiếm cây cung thần này khắp nơi và một hôm ông tìm thấy một cây cung ấy treo bên dứơi một gốc cây thần ở vườn một ngôi đền. Brahmin Kauṇḍinya lập tức thi hành lời vị thánh đã chỉ. Ông lên thuyền cùng đoàn tùy tùng vượt biển khơi. Sau nhiều phen chống lại với phong ba bão tát, Brahmin Kauṇḍinya cuối cùng đã đặt chân lên vùng Cambot- Hà Tiên ngày nay. Khi mới đặt chân lên đây, Brahmin Kauṇḍinya bị sự kháng cự mãnh liệt của quân đội vua rắn Nāga. Lẽ dĩ nhiên, đạo quân này cũng toàn là rắn. Bất chấp sự đe dọa, ghê sợ của đạo quân rắn Brahmin Kauṇḍinya và đoàn tùy tùng đã đánh bại vua Nāga. Khi truy lùng đạo bại quân, Brahmin Kauṇḍinya, một tối, bắt gặp một người con gái tuyệt đẹp tên Somā.

Kauṇḍinya lấy Somā làm vợ và sáng hôm sau ông thấy bà vợ ông cũng là một con rắn khổng lồ. Bấy giời ông mới biết Somā là công chúa con gái vua rắn Nāga. Nhưng Kauṇḍinya vẫn thương yêu Somā và lên ngôi vua cai trị vùng này. Kauṇḍinya sau đó lần lần chiếm đoạt tất cả vùng trải dài từ vùng đồng bằng Cửu Long- Cambot và  2/3 Thái Lan ngày nay. Kể từ ngày ấy một quốc gia to lớn ra đời: Phù Nam.
Phù Nam

Vì truyền thuyết này, các vị vua Cambot trước thời Pháp thuộc có tục lệ ngủ với vợ rắn, trước khi ngủ với vợ người.

Trong quyển Chân Lạp Phong Thổ Ký của Châu Đạt Quan cũng ghi lại như sau:

“Ban đêm, nhà Vua ngủ trên chót ngôi tháp bằng vàng ở giữa cung. Tất cả dân chúng tin chắc rằng trong tháp có một vị Thần là con rắn chín đầu, chủ tể cả giang sơn. Mỗi đêm Thần biến thành đàn bà đến ân ái với nhà Vua trước. Các bà vợ Vua cũng không dám vào. Canh hai, nhà Vua ra khỏi phòng, bấy giờ mới có thể ngủ với Hoàng-hậu hoặc các cung phi. Nếu đêm nào vị Thần không xuất hiện đó là ngày chết của nhà Vua đã đến. Nếu nhà Vua vắng mặt trong một đêm, chắc chắn ngài sẽ gặp một tai họa ..”                                                       

Nếu bạn tới đất Cambot ngày nay, bạn sẽ gặp rất nhiều tượng rắn hổ. Đó là thần rắn Nāga của thời Phù Nam xa xưa, huyền ảo ảnh hưởng tới đất nước ấy cho đến nay. 

Cùng thời gian này Việt Nam ta vỏn vẹn là vùng đồng bằng sông Hồng Hà sau khi Nam Việt của Triệu Đà bị nhà Hán xâm lăng và sự thất bại của hai bà Trưng. Lúc ấy nước ta chỉ là một quận của Trung Quốc.

Sau một thời gian, nước Phù Nam mở rộng hơn. Theo một cuộc họp nghiên cứu về Phù Nam giữa hai phái đoàn Mỹ Việt đã đưa ra kết luận Phù Nam đã có thời gian lan rộng thêm các phàn đất của Nam Dương và Phi Luật Tân.

Vào thế kỷ IV và V, Phù Nam chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Rồi đạo Ấn lan tràn.

Lịch Sử Bangladesh còn ghi rằng một người từ vùng này tên Lạc Long Quân sang đồng bằng Bắc Bộ lập ra nước ta sau này. Thật là trái ngược với các kiến thức mà ta đã học từ tiểu học lẫn trung học là lạc Long Quân từ vùng Động Đình Hồ. Đến các người học đại học sử cũng chưa biết lịch sử ấy. Chắc bạn đọc rất ngạc nhiên về việc này? Tôi cũng vậy. Trong khoảng 2007-2009 tôi có nêu câu hỏi trên diễn đàn Viện Việt Học, Nam Cali, nhưng không ai trả lời được.

Đế quốc Phù Nam sau đó suy tàn vào khoảng thế kỷ VI. Một vương quốc khác nổi lên là Chân Lạp thay vào đây.

 

Cáo Lỗi


Cáo Lỗi

Hôm qua vì không có hình của các trận đánh nên không đang hết bài cụôc xâm lăng thứ hai.

Hôm nay đang tiếp phần đánh này. Tôi đang chuản bị các hình cho trận thứ bạn . Mong bạn đọc thứ lỗi.

Đại Việt thắng Nguyên Mông? Bài 44


CHƯƠNG 03 (tt)

XIII/ Đánh Đại Việt.

Năm 1285, tình hình Đại việt nguy hiểm vô cùng.

Trần Quang Khải được lệnh chặn Toa Đô ở Nghệ An.

Toa Đô, Giảo Kỳ, Đường Cổ Đới từ Chiêm Thành đánh ra đến Quảng Bình. Trong Khi ấy Ô Mã Nhi từ biển đánh vào Thanh Hóa.

Trần Kiện, Lê Tắc hàng giặc.

 Ngày 2 tháng 2, kỵ binh Giảo Kỳ phá được quân ta ở Vệ Bố thuộc Thanh Hóa. Tướng của ta là Đinh Xá, Nguyễn Tất Dũng tử trận.

Văn Nghĩa Hầu Trần Tú Viên và Văn Chiêu Hầu Trần Văn Lộng đem gia đình hàng giặc.

Sau đó Giảo Kỳ cùng hàng tướng Trần Kiện đánh quân Trần Quang Khải. Ông chống không lại nên phải rút đi.

Toa Đô ra đến Thanh Hóa mở cuộc chiêu an.
 

Từ tháng Tư âm lịch khí trời nóng, lại có mưa rào. Quân Nguyên bắt đầu bị bệnh, kỵ mã di chuyển khó khăn.
Lúc ấy, Toa Độ bắt đầu tiến ra đến Thiên Trường (Ninh Bình) nhưng không thể bắt tay với cánh quân miền bắc vì quân Đại Việt chặn đánh khắp nơi. Y lại nhận được lệnh quay vào Thanh Hóa bắt 2 vua Trần. Nhưng tièm hoài mà không ra. Muốn quay về Thăng Long cũng không nổi vì hai cánh quân của Trần Quang Khải vàTrần Nhật Duật chặn đánh liên miên.

Thấy vậy, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem thuyền vào cứu. Bây giờ xin độc giả đọc từ số 1 có khung  màu vàng "Toa Đô được lệnh quay..." sang só 2 rồi số 3 v.v.v.

PHẢN CÔNG ĐÁNH TOA ĐÔ

Mùa hè đã tới đem theo nóng nực, ẩm ướt. Toàn cõi Đại Việt, các cánh dồng đầy nước, nhất là vùng châu thổ sông Hồng, sông Đáy và sông Mã. Sự kiện đó làm quân Nguyên Mông bất lợi. Khỏi đầu là trận thắng ở Tây Kết, chém Toa Đô, sau là Trần Nhật Duật thắng tại Vạn Kiếp.

Cũng như trân, xin độc giả dọc từ số 1 có khung  màu vàng "Trần Nhật Duật..." sang só 2 rồi số 3 v.v.v.



Thoát Hoan ẫn tàn binh về lại Trung Quốc. Tin này tới tai Hốt Tấ Liệt. Ong giận lắm định đem cả bọn chem.. Triều đình cản mãi mới nguôi giận.

Lúc ấy, cuộc đánh Nhật cũng bại vì bão. Nguyên Triều đang lo chuẩn bị đánh Nhật. Hốt Tất Liệt ra lệnh ngưng lại. Ông phán đại ý : Nước này không xâm phạm ta nên ngưng lại còn Đại Việt mới là kẻ thù chính.

Tuesday, March 4, 2014

Hán- Cường Quốc cô đơn 13


Ngoài biển Đông, ta hãy xem TQ còn làm gì.

A-   Ấn Độ Dương. 

Cùng khi ấy Trung Cộng tăng cường sự hiện diện trên Ấn Độ Dương Ngày 18 tháng 12, 2008, Trung Quốc đã xác nhận sự hiện hải quân tại vịnh Aden để ngăn hải tặc. Sự bất ngờ viếng thăm của Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt hồi đầu tháng 12-2011 tại quần đảo Seychelles trên Ấn Độ Dương cùng các hoạt động quân sự của nước này tại Pakistan và Phi Châu làm Ấn Độ cũng cảm thấy bị đe dọa. Ông Liệt đã để nghi với Seychelles để Trung Quốc lập căn cứ hải quân, nhưng bị từ chối.

Trung Cộng đã len lỏi vào các hải đảo trên Ấn Độ Dương và các quốc gia chung quanh như Mã Lai, Thái Lan, Miến đi ện, Bangladesh, Sri Lanka lập ra một chuỗi căn cứ và mệnh danh là chuỗi ngọc trai- String of Pearls.

Dù là hoạt động hải quân Trung Quốc tại đây chưa mạnh mẽ lắm, nhưng nó đã chứng tỏ cho Ấn thấy manh nha của người láng giềng khổng lồ, hiếu chiến và không mấy thân thích.
 
A-     Thái Bình Dương.
Con bạch tuộc khổng lồ TQ chưa ngừng ở đây khi hải quân họ đang đường trở thành cường quốc trên biển cả. Chiếm Biển Đông Việt Nam chưa đủ với chứng cớ sân nhà, con bạch tuộc vươn sang Ấn Độ Dương với lý do chống hải tặc; nó còn vươn sang Thái Bình Dương để bành trướng lãnh hải. Nhưng kẹt quá, phía đông của nó là hải quân Mỹ- số một thế giới vẫn ngư trị và quần đảo Guam là hàng rào đầu tiên. Gần hơn nữa là Đài Loan và Nhật Bản, hai đồng minh của Mỹ. Đài Loan thì con bạch tuộc này coi như là người nhà chỉ có Nhật Bản là khó xơi thôi. Tuy vậy, con bạch tuộc này vẫn dùng vòi quấy động quần đảo Senkaku-Điếu Ngư Đài.
Theo lịch sử  
 
 
 
 
 
Dù là hoạt động hải quân Trung Quốc tại đây chưa mạnh mẽ lắm, nhưng nó đã chứng tỏ cho Ấn thấy manh nha của người láng giềng khổng lồ, hiếu chiến và không mấy thân thích.
 
A-     Thái Bình Dương.
Con bạch tuộc khổng lồ TQ chưa ngừng ở đây khi hải quân họ đang đường trở thành cường quốc trên biển cả. Chiếm Biển Đông Việt Nam chưa đủ với chứng cớ sân nhà, con bạch tuộc vươn sang Ấn Độ Dương với lý do chống hải tặc; nó còn vươn sang Thái Bình Dương để bành trướng lãnh hải. Nhưng kẹt quá, phía đông của nó là hải quân Mỹ- số một thế giới vẫn ngư trị và quần đảo Guam là hàng rào đầu tiên. Gần hơn nữa là Đài Loan và Nhật Bản, hai đồng minh của Mỹ. Đài Loan thì con bạch tuộc này coi như là người nhà chỉ có Nhật Bản là khó xơi thôi. Tuy vậy, con bạch tuộc này vẫn dùng vòi quấy động quần đảo Senkaku-Điếu Ngư Đài.
Theo lịch sử 
 
 
 
Ghi nhận vào đời Minh (1403) khi đoàn tầu của đế quốc TQ viếng thăm Ryūkyū của Nhật.  Ta cũng nên nhớ là đòan tầu đi đến đâu thấy gì ghi nhận mà thôi.  Nhóm đảo này gồm 5 đảo nhỏ và 3 gộp đá diện tích khoảng 6 km2
Người Âu Châu đã ghi nhận vào năm 1796.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Monday, March 3, 2014

Các ngôi đền-chùa nổi tiếng 10


Angkor Wat, Campuchia

Một vài lần bạn bè ngồi nói chuyện, chúng tôi đề cập tới Angkor Wat hay Đế Thiên, Đế Thích. Mọi người đều có vẻ thất vọng khi thấy Cambot có ngôi đền to lớn lừng danh thế giới, trong khi Việt Nam ta to gấp 2, xâm lăng nước này nhiều lần, thế mà chẳng có một di tích lịch sử tương xứng để có thể cạnh tranh với ngôi vị của đền này.

Trước khi nói tới đền Angkor Wat, ta tìm hiểu qua tại sao một nước Cambot nhỏ tý lại có một đền thờ vĩ đại ấy và trở thành một trong 7 kì quan thế giới ngày nay? Đây là dịp để chúng ta cùng có cơ hội tìm hiểu quốc gia nhỏ bé bên cạnh nước ta.

Sáu thế kỷ trước công nguyên thì cả vùng đồng bằng Cửu Long và nước Cambot còn nằm dưới mặt nước biển. Từ từ sau những thay đổi và phù sa con sông lớn này đã làm các phần đất từ từ xuất hiện với các rừng cây bạt ngàn và được ngự trị bỏi các loài rắn khổng lồ mà người Việt miền rừng U Minh gọi là rắn hổ mây. Đó là một trong các loài trăn lớn nhất thế giới. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học gia được chiếu tren các channel History, National Geography thì trên thế giới có hay loài trăn lớn sống vùng nước sình lầy và cây rừng. Loài thứ nhất là Anacoda ở châu thổ con sông lớn nhất thế giới: Amazon. Loài thứ hai là python- trăn, ở Đông Nam Á. Loài Anacoda thì có thân lớn nhất, trong khi loài python thì dài nhất. Năm 1997, các nhà làm phim ơ Hollywod đã cho chiếu cuộn phim kinh dị Anacoda. Trong phim tả lại một nhóm thám hiểm vào con sông lớn ở Nam Mỹ và gặp loài rắn khổng lồ.
Anacoda
Ngày trước 75, tôi quen một ông hiệu trưởng tiểu học của tỉnh Vĩnh Long. Ông tên là Lê Vinh Hoa. Tôi quen ông là vì tất cả con ông đều học trò toán của tôi. Tuy tuổi ông hơn tuổi tôi tới mười mấy năm, nhưng ông coi tôi như bạn vong niên. Tôi cũng rất phục ông về tính công bằng chống đối bè phái tham nhũng. Vì thế chúng tôi thường nói chuyện với nhau khi nhàn rỗi. Tôi hay lại nhà ông chơi và ông kể cho tôi nhiều chuyện về loài rắn này. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ông vào bưng kháng chiến. Chiến khu của ông là Rừng U Minh.

Rừng U Minh nằm trong những phần đất cuối cùng của Việt Nam, nơi chỉ có nước lợ với rừng cây bát ngát. Lẽ dĩ nhiên đây phải là loài cây mọc trên nước lợ mà đa số là cây bần và cây tràm.  Trên phương diện môi sinh, ta thấy rừng U minh giống hệt vùng châu thổ sông Amanzon. Khí hậu nóng nực; cây cối cao to, và bên dưới là nước với các bầy cá, tôm- thực phẩm dồi dào. Vì vậy, nơi ấy là môi trường sinh sống của các loài trăn rắn khổng lồ. Sự di chuyển chính nơi đây, nhất là thời trước 75, là các xuồng nhỏ. Với sự di chuyển khó khăn này mà du kích thường lấy U Minh làm mật khu, vì các tàu to lớn của các đế quốc văn minh không thể vào đây được.

Rừng U Minh

Ông Hoa kể: “Một hôm sáng sớm tinh mơ, ông và một đồng chí được lệnh đi công tác. Hai người ra lấy xuồng chèo trên các kinh lạch của rừng sắp nước. Chèo ra khỏi mật khu một đoạn, ông và người bạn vào một khúc sông nước chảy khá siết. Trong sương mờ của buổi ban mai, hai người thấy một thân cây dừa cao độ 2 m lắc lư giữa sông. Hiện tượng này rất thông thường, ở các vùng đồng bằng Cửu Long, vì dừa hay được trồng ven sông, và khi bờ bị sói mòn thì dừa rơi vào lòng sông. Bản thân tôi cũng chứng kiến cây dừa ở giữa sông lắc lư vì nước chảy. Nhưng đối với ông và người đồng chí thì hơi lạ, vì họ đã đi qua đây nhiều lần mà không thấy cây dừa này. Khi đến gần, hai người cùng tê cóng tay chân. Đó không phải cây dừa mà là một phần trên của con rắn hổ mây (python-trăn). Nó đang trụ giữa sông để bắt cá.”

Câu chuyện ông kể làm tôi liên tưởng tới các câu chuyện cổ tích, quái dị.

Một hôm khác, ông và bà vợ cùng kể tôi nghe câu chuyện loài rắn này.

“Một ngày, trời chiều xâm xẩm tối. Hai ông bà ngồi chụm củi nấu cơm, trong cái bếp mà vách làm bởi các cây đước. Mà vách đước thì chẳng mấy kín đáo, nên ngồi trong nhà có thể thấy bên ngoài. Nhưng trời gần tối và vì ánh lửa nên hai người không thấy gì bên ngoài cả.

Lúc hai người đang hì hà hì hục thổi cho bếp cháy, thì nghe tiếng động trên mái nhà. Hai người cùng nghĩ con chim nào đó đang đến tìm chỗ làm tổ tạm thời.

Nhưng rồi hai người cùng có cảm tưởng chuyện con chim này hơi lạ, nên cùng ngửng đầu ngó lên. Hai người bây giờ há mồm mà ngậm lại không được, toàn thân tê cóng. Mái nhà hai người đã thủng và qua lỗ thủng là đầu con rắn hổ mây, to như trái dừa. Con rắn khổng lồ đang nhìn hai người trừng trừng, và cái lưỡi thò ra rút vào, nhìn khủng khiếp. Nhờ vào lửa nên con rắn rút đầu ra, bò đi. Khi nó rút đầu khỏi lỗ thủng, hai ông bà nhìn ra ngoài thì thấy thân con rắn còn ở dưới đất…”

Lại có hôm, ông kể: “Toán người của ông đi vào rừng hoang, công tác. Đang đi thì nghe tiếng nước đổ. Dừơng như đó là một toán người tát nước bằng gầu dây. Cả đám lấy làm lạ khu này hoang vắng, mà ai vào tát cá vậy? Toán người cùng lại đó xem thì nhận ra một con rắn hổ mây, đầu cuốn vào một cây, đuôi cuốn vào cây khác, còn thân thì đong đưa qua lại tát nước.”

Thời xưa, người ta gọi chúng là rắn thần Naga. Chẳng biết khi nào Việt Nam cho ra cuộn phim “Rắn hổ mây”?
Rắn hổ mây