Tuesday, April 22, 2014

CHIẾN HẠM 6

LỊCH SỬ CHIẾN THUYỀN TIỀN DREADNOUGHT (tt)

Tàu ngầm trong thế chiến I.

Hạm đội Đức - trong thế chiến I

Trong thế chiến thứ nhất là thời gian các tàu ngầm họat động có vẻ thường xuyên hơn với động cơ diesel điện cải tiến cùng áp dụng periscope- tiềm vọng kính. Thật ra tiềm vọng kính đã được phát minh bởi Johannes Gutenberg, một người thợ rèn Đức, từ năm thập niên 1430s. Ông phát minh vì muốn đứng trong đám đông hành hương mà nhìn thấy chỗ chủ lễ. Năm 1854, Edme Hippolyte Marié-Davy- nhà hóa học Pháp, phát minh ra tiềm vọng kính dùng cho ngành hàng hải. Từ đó đến thế chiến thứ nhất, tất cả tàu ngầm đều được trang bị với sáng chế này.

Nguyên tắc cơ bản của tiềm vọng kính:

Khi bạn soi gương, bạn sẽ thấy một ảnh của bạn trong gương đối xứng nhưng chỉ có điều tay phải thành tay trái, và tay trái thành tay phải. Ảnh này theo khoa học gọi là ảnh ảo, vì không thể đưa lên một  màn ảnh như các ảnh tạo ra bởi thấu kính hội tụ. Khi ta nói ảnh và người đối xứng có nghĩa là khoảng cách từ đầu và ảnh của đầu đến gương bằng nhau; khoảng cách từ chân đến ảnh của chân đến gương cũng bằng nhau.

Ông thợ rèn đã dùng một ống kín, hai đầu hở như hình vẽ dưới đây:

Mỗi đầu ông để một gương phẳng (có thể là lăng kính tam giác đều). Ta đặt tên hai gương phẳng này là gương phẳng 1 và gương phẳng 2 song song nhau, hợp với mặt phẳng nằm ngang 45 độ; và giả sử khoảng cách thẳng đứng giữa hai gương là 1 m thì ta sẽ có các kết quả dưới đây. Người quan sát sẽ đặt mắt ở phía dưới, nơi có gương phẳng 2 và quan sát một lính địch ở xa, giả sử 100m (ta lấy chân của người lính để đo). Gương phẳng 1 sẽ cho 1 ảnh ảo ở vị trí B, đối xứng với người lính qua gương này. Như vậy chân ảnh người lính cũng cách xa gương 1 một khoảng là 100 m. Ảnh B nằm song song với mặt đất (hay biển). Ảnh B bây giờ trở thành vật quan sát của gương phẳng 2, và cho 1 ảnh ảo C đối xứng qua ngương 2. Khoảng cách từ chân ảnh B đến gương 2 là 100m cộng thêm 1 m khảng cách 2 gương nên khoảng cách bây giờ là 101 m. Vì lý do ấy, người quan sát sẽ thấy người lính địch cách xa anh ta 101 m. Vì sự đối xứng lần 2, mà ảnh bây giờ lại cùng chiều với người lính mà ta quan sát.
Nếu các bạn muốn thí nghiệm thì dùng một hộp giấy dài rồi dùng 2 gương phẳng ghép lại như hình vẽ sẽ thấy được vật ở xa trong đám đông cao hơn bạn.
Trong thực tế, khi làm tiềm vọng kính theo Edme Hippolyte Marié-Davy, người ta phải đặt tại I và II các hệ thống các kính hội tụ, phân kỳ để làm các ảnh to và rõ hơn. Tàu ngầm dùng tiềm vọng kính để quan sát đối phương mà không cần nổi lên khỏi mặt nước.
Trong thế chiến I, Đức có U-Boot. U-Boot là chữ viết tắt từ Unterseeboot, có nghiã là "undersea boat" (thuyền chạy dưới mặt nước) và đồng Minh đặt tên là U-boat. Lúc khởi đầu cuộc chiến đức có 20 tàu ngầm, kể cả chiếc U-19 có tầm hoạt động 8000 km và Anh có 74 chiếc.
Lực lượng tàu ngầm Đức U-boat tham chiến ở Atlantic (Đại Tây Dương) đã đánh chìm chiếc RMS Lusitania, một tầu chở hành khách của Anh. Sự kiện này đã kéo Hoa Kỳ vào chiến tranh thứ nhất.
Một trận nổi tiếng là chiếc U-boat U-9 đã nhận chìm 3 tuần dương hạm của Anh trong 1 giờ vào tháng 9 năm 1914.
Các U-boat được trang bị dộng cơ diesel-electric. Lúc nổi, U-boat dùng động cơ diesel, vừa chạy vừa nạp điện vào pin, khi lặn nó chạy bằng động cơ điện.
Trong thời gian từ 1914 đến 1918, các U-boat của Đức đã đánh chìm hơn 5000 tầu đủ loại của Đồng Minh.
 

Monday, April 21, 2014

Các ngôi đền-chùa nổi tiếng 16 (END)

Bài viết ký trước
Năm sau 1296, nhà Nguyên cử Châu Đạt Quan sang làm sứ ở Angkor. Châu Đạt Quan ở lại đây 1 năm. Nhìn thấy cảnh hoang tàn đổ nát vì sự phái hoại của Jayavarman VIII, Châu Đạt Quan đã xúc động. Ông này viết lại hồi ký đi Chân Lạp với tên Chân Lạp Phong Thổ Ký. Châu Dạt Quan là sứ giả đầu tiên của nhà Nguyên sang Angkor, nhưng cũng là vị sứ giả cuối cùng.
Từ năm 1350 về sau là các chuỗi ngày buồn thảm của đế quốc Khmer. Khởi đầu là Sukhothai với sự tách ra khỏi ảnh hưởng của Khmer. Nhưng sau đó, một quốc gia khác ở phía nam nước này là Ayutthaya, nằm trên lưu vực sông Mê Nam đã chinh phục họ.
***
Kể từ đó Ayutthaya càng lúc càng mạnh, họ đã tấn công liên tiếp vào lãnh thổ Khmer. Cuối cùng họ chiếm được Angkor và nơi đây trở thành chư hầu của Ayutthaya. Nước Khmer bây giờ phải rút khỏi Angkor, lập kinh đô mới ở Oudong mà ngày nay là Nam Vang.

Cộng thêm vào đấy là sự tiêu pha quá nhiều vào các việc xây dựng đền đài làm tốn công, phí của, kiến dân chúng đói rét mà dẫn tới việc này. Sự kiện ấy làm tôi nghĩ tới việc Tần Thủy Hoàng xây Vạn Lý Trường Thành rồi cung A Phòng. Vạn Lý Trường Thành thì ai cũng biết, nhưng cung A Phòng thì chắc chẳng mấy người để ý tới. Theo các nguồn sử thì cung này rộng lớn vô cùng. Khi Hạng Võ tiến quân vào đây, ông đã cho đốt cháy cung ấy. Cung cháy 3 tháng mới tàn. Đến như các đám cháy rừng ở Mỹ, Úc kéo dài một tháng cũng là khủng khiếp lắm. Cháy tới 3 tháng thì ghê vô cùng. Chẳng hiểu các sử gia Trung Quốc có thêm thắt gì không? Hiện nay tại Tây An, chính phủ Trung Quốc có chương trình khôi phục cung A Phòng để hấp dẫn du khách. Nhưng dù sao việc xây cất trên đã làm dân chúng điêu linh, mà bị nhà Hán thôn tính. Tùy Dạng đế tiêu pha quá nhiều; đào kinh Đại Vận Hà để thuyền rồng du ngoạn. Đại Vận Hà nối từ Bắc Kinh tới Hàng Châu, tốn tới 2 triệu nhân công. Điều này kiến kinh tế lụn bại và rồi  làm nhà Tùy thua Cao Ly và sau mất nghiệp. Nước Miến Điện xây quá nhiều chùa sơn son, thiếp vàng, dát ngọc mà bị Mông Cổ chiếm.

Trong quyển Đế Thiên Đế Thích, tác giả Nguyễn Hiến Lê đã viết.

Những công việc kiến thiết đó hao tốn rất nhiều tài sản, sức lực của dân, mà người Miên từ đầu thế kỷ XIII, hoá ra kiệt quệ, bị người Thái chiếm. Cuối thế kỷ đó, năm 1296, một người Trung Hoa tên là Chu Đạt Quan (Tcheou Ta Kouan) qua Miên, đau lòng cho cảnh suy tàn của Angkor và viết một tập du ký ghi phong cảnh và phong tục Miên. Tập đó, Paul Pelliot đã dịch ra Pháp văn, nhan đề là Mémoires sur les coutumes du Cambodge (xuất bản năm 1902). Các vua Miên từ đó phải bỏ miền Bắc để tránh người Thái, xuống ở miền Nam, dựng đô ở Oudon, phía trên bến đò Kompong Luong vài cây số, rồi lại dời lần nữa xuống Nam Vang, sau bị Việt rồi tới Pháp đô hộ.”

Trong thời gian vua Ang Chan (1516-1566), quân Khmer đã phản tấn công Ayutthaya chiếm lại Angkor. Trận đánh lớn nhất ở vùng gần Angkor. Trong trận này quân Khmer đại thắng bắt hơn 10000 tù binh. Người Khmer đổi tên vùng này thành Siem Reap. Xiêm là tên nước Xiêm hay Ayutthaya, còn Reap là chiến thắng.

Sự tranh giành ngôi vị của hoàng thân quốc thích đã biến đế quốc này trở thành Vang Bóng Một Thời. Một bài học cho tất cả người Việt để ghi nhớ.

Nước Khmer sau đó là địa bàn tranh giành ảnh hưởng của Chúa Nguyễn đàng trong Việt Nam cùng Xiêm La (Thái Lan). Đất đai phần cắt cho các chúa Nguyễn phần mất vì Xiêm thu nhỏ lại hơn ngày này. May nhờ Pháp đô hộ năm 1863 họ đem quân giúp người Miên chiếm lại Angkor và vẽ lại bản đồ làm quốc gia rộng hơn. Kể từ ngày độc lập khỏi tay người Pháp năm 1953, người Cambot đã giữ vững được phần lãnh thổ còn lại. Tuy nhiên, phần biên giới với Việt Nam đã có các xung đột ngay sau 1975, bây giờ thì hơi tạm ổn, nhưng biên giới với Thái Lan vẫn còn nhiều điều phải giải quyết nên chiến tranh vẫn hay nổ ra.

 

Angkor Wat

Angkor Wat là quần thể đền thờ vĩ đại, được xây dựng từ thế kỷ 12 như ta đã biết để tôn vinh đạo thần Vishnu của Ấn Dộ Giáo và sau đó là Phật giáo. Kể từ ngày suy tàn, và ngừơi Xiêm chiếm đóng đã lấy đi rất nhiều vật quý giá, rồi bị lãng quên. Sau nhiều năm bị bỏ hoang giữa rừng già, Angkor đã được trả lại những vinh quang đáng có và luôn đứng ở đầu danh sách những điểm du lịch khám phá không thể bỏ qua. Angkor tiếng Cambot có nghĩa là Kinh Đô hay Thành phố và Wat có nghĩa là vùng thánh địa hay đền thờ.

Bản đồ Đế Thiên Đế Thích
Tôi được nghe cách đây bốn hay năm chục năm trước nên không nhớ hết một huyền sử về việc xây Angkor Wat. Nếu bạn nào biết câu chuyện này xin email về vhkt.3563@gmail.com. Chân thành cám ơn. Theo các mẩu truyện thần kì này thì Angkor Wat là công trình xây cất của hai vị thần linh thi đua nhau. Và một vị đã thắng với công trình xúc đất đá ném lên mà thành trong một đêm mà thôi.

Theo sự tính toán của các chuyên viên Angkor Wat được tạo nên bỏi một khối lượng đá khổng lồ trên 5 triệu tấn. Khối lượng đá này đủ xây Kim Tự Tháp lớn thứ nhì của Ai Cập: Kim Tự Tháp Khafre. Muốn xây Angkor Wat, người Khmer đã phải chuyển đá từ mỏ đá ở núi Kulen về bởi bè mảng trên sông Siem Reap. Mỏ này cách kinh đô Angkor một khoảng tới trên 40 cây số. Các bạn đọc đã thấy cái công việc vĩ đại, mà người Cambot làm chưa? Đá khi đem về đã được người cùng voi đưa vào chỗ ấn định. Tuy là đá được bè mảng chở về, nhưng các khối đá rất lớn nên việc di chuyển rất khó khăn, nếu không cẩn thận thì chúng sẽ lật nhào xuống đáy sông.

Trong thời gian khảo sát đền của các nhóm khảo cổ Tây phương, một kĩ sư đã áng chừng ngày nay muốn xây lại công trình tương tự thì phải tốn 300 năm. Tôi không biết ông này dựa vào cơ sở nào mà tìm ra con số ấy. Tuy nhiên, ông là kỹ sư thì chắc tính toán cũng chẳng mấy sai biệt.

Công trình này bao gồm rất nhiều tượng, cùng các bản chạm nổi trên các phiến đá, mà theo dấu vết người ta tính ra đã phải làm mấy trăm năm trước. Có các vật người ta tính ra đã làm từ thời nước này còn tên là Chân Lạp. Họ tính ra rằng một diện tích 12000 mết vuôpng đá dã được chạm trổ rất công phu.

Khi ngắm các công trình từ cấu trúc đến nghệ thuật nhiều người Âu Châu đã sững sờ trước vẻ đẹp của Angkor Wat.  António da Madalena môt thầy tu của Bồ Đào Nha, đến tham nơi đây năm 1586 đã phải thốt lên: “Những công trình xây cất này ngoài sự tượng tượng, không bút mực nào tả siết vì các tháp chẳng giống bất kì công trình nào trên thế giới. Nó (Angkor Wat) có các tháp và các trang trí rất tinh sảo mà con người có thể tưởng tượng ra.” [is of such extraordinary construction that it is not possible to describe it with a pen, particularly since it is like no other building in the world. It has towers and decoration and all the refinements which the human genius can conceive of.]

Trong giữa thế kỷ XIX (19), Nôt nhà tư nhiên học người Pháp đẽ đến đây viếng đền và khám phá. Ông đã viết bài về chuyến du hành. Ông viết: “ Một trong các tháp này có thể so sánh với tháp Solomon mà thiên tài Michelangelo đã tạo ra. Nó có thể để chúng ta tuyên dương là những công trình đẹp nhất. Vẻ hoàng tráng của chúng còn hơn bất kỳ vật nào để lại cho chúng ta từ cổ Hy Lạp hay La Mã. [One of these temples—a rival to that of Solomon, and erected by some ancient Michelangelo—might take an honorable place beside our most beautiful buildings. It is grander than anything left to us by Greece or Rome]

Trong quyển "Đế Thiên Đế Thích" tác giả Nguyễn Hiến Lê đã viết:

Qua một lối đi nữa, ta vô dãy sau cùng, lại càng thấy rùng rợn hơn. Ta vội vã bước vào sâu để tìm chút ánh sáng ấm áp, vàng vàng ở trong cùng kia, trong khoảng sân hẹp dưới hàng trăm cặp mắt của Phật Avalokitecvara. Ở đây có 50 cái tháp (*), cái nào cũng cao trên mười thước. Có 172 mặt người (tức 43 đầu Phật mỗi đầu có 4 mặt) lớn hai, ba thước, cái ở trên cao, cái ở dưới thấp, cái sáng một nữa, cái sáng một góc, cái sáng cả, cái tối cả, hướng đủ bốn phương trời, và cái nào cũng có cặp mắt hiền từ, cũng có nụ cười khoan hoà, mỉa mai và bí mật.

Nhưng phải tới đây một đêm trăng mới thấy được cái vô cùng thần diệu, cái vô cùng kỳ dị của cảnh, thấy được cái tài tưởng tượng và sáng tác không tiền khoáng hậu của nghệ sĩ. Ta sẽ thấy dưới ánh trăng huyền ảo có cặp mắt long lanh như cười loài người khờ dại; có cặp mắt ươn ướt như khóc nhân thế trầm luân; có cặp môi như trêu cợt mỉa mai; có cặp môi như mấy máy muốn nói; có nụ cười từ bi, có nét mặt vỗ về; lại có cặp mắt như động lòng nhắm lại, có vẻ mặt như thương tâm mà quay đi. Trăm bảy mươi hai mặt cùng một khuôn mà trăm bảy mươi hai vẻ! Quả thực là một thế giới kỳ dị trong thần thoại do những sinh vật hoàn toàn khác chúng ta dựng nên.

 
Angkor Wat
Ta thẫn thờ trước cảnh và tự hỏi: Làm sao họ chở được cả những núi đá đó qua biết bao rừng sâu, đồng lầy từ dãy núi Kulen tới đây; rồi dùng vôi cát gì để gắn mà trải mấy trăm năm không đổ, không hề dùng máy đóng cừ mà nền dưới sức nặng thế kia vẫn không sụt; họ mài làm sao, xếp làm sao mà nhiều chỗ hai phiến đá khít nhau đến nỗi ta lầm là một phiến; và đục chạm làm sao mà nét đều, sắc như vậy; trăm mặt Phật giống nhau như vậy?

Tất cả các du khách đều ca tụng kiến trúc ngôi đến này. Doudart de Lagrée bảo nó là “thần tiên, lạ lùng”, Tissandart khen nó là độc nhật trên thế giới. Và Pierre Loti viết: “Tôi ngửng đầu lên nhìn những tháp dựng đứng ở trên cao, chìm trong cảnh xanh tươi đó, và thình lình tôi rùng mình, sợ sệt – một nỗi sợ mà tôi chưa từng biết – khi tôi thấy một nét mỉm cười lạnh lẽo rơi từ trên cao xuống tôi… rồi lại có một nét mỉm cười nữa ở đằng kia, trên một mảnh tường khác… rồi ba, rồi năm, rồi mười cái mỉm cười, đâu cũng có; tôi bị giám sát ở khắp nơi”.
 
Angkor Wat Hoàng Hôn
Với niềm kiêu hãnh về sự oanh liệt một thời của Angkor trong thế kỷ XII (12) này, lá quốc kỳ nước này đã đem Angkor Wat lên làm biểu tượng.

Sau này, các vì vua nối tiếp càng ngày càng bị ảnh hưởng Phật Giáo, nên đề được làm nơi thờ Phật. Đến ngày nay Angkor Wat là đền thờ tôn giáo lớn nhất thế giới.

Tôi ước ao có một ngày nào đó, tôi sẽ có dịp đến đây để chiêm ngưỡng cái kỳ tích của dân Cambot cùng chia sẽ cái ngậm ngùi của một dân tộc đã từng một thời oanh liệt.

Báo tang và cảm tạ.


Bà Bùi Thị Thanh, thân mẫu của hiền thê, pháp danh: Thường Hạnh, từ trần ngày 17-4-2014, tại Việt Nam, hưởng thọ 100 tuổi.

Cám ơn bạn bè, cùng tất cả cựu học sinh trung học Chợ Lách đã đến chia buồn.

Chúng tôi không quên cám ơn tất cả các bạn bè của các cháu chúng tôi đã đến phân ưu cho gia đình.

Mọi khiếm khuyết trong lúc tang gia bối rối, xin các vị bỏ qua.

Gia đình:

Ngô Văn Thới

Ngô Văn Thạnh

Ngô Văn Truyền-

Ngô Văn Kế

Ngô Thị điệp & Võ Hiệp

cùng tất cả các con các cháu.

Viết thêm về : Túc Ngũ Tùng Sơn Hạ Tuân Ảo Gia


Như tôi đã viết vài ngày trước vì một lý do đặc bất ngờ computer ở nhà không thể vào đănh bài lên blog, nên đành dùng computer hãng đăng lúc ăn trưa, nên thì giờ rất eo hẹp, lắm khi bài viết ngắn và chưa kịp giải thích.

Nay tôi nhận được email của: VietFiddle <noreply-comment@blogger.com> bổ túc cho bài thơ:

Thơ Lý Bạch - Túc Ngũ Tùng Sơn Hạ Tuân Ảo Gia
Nay dăng lên cho các bạn cùng thưởng thức:


Trọ nhà Tuân Ảo dưới chân núi Năm Cây Tùng
Tôi trọ dưới Ngũ Tùng (bây giờ là miền nam của huyện Đồng Lăng, tỉnh An Huy)
Cảnh vắng lòng chẳng vui. (Lý Bạch là quan lớn, lại là nhà thơ, đi chơi để vui vẻ, nhưng đến đây thì không thể vui được.)
Công việc nhà nông mùa thu vất vả làm đắng lòng. (Đắng lòng người xóm nghèo hay đắng lòng tác giả?)
Tiếng chày giã của cô hàng xóm lạnh cả lòng. (Lạnh lòng cô láng giềng hay lạnh lòng tác giả?)
Quỳ bưng bát cơm Điêu Hồ Phạn. (Đó là cơm nấu bằng hạt cây Niễng. Cây này có ở Việt Nam, đốt mọc ngay mặt nước phình ra, trắng nõn, ăn sống rất giòn ngọt, mà thái ra xào cũng rất ngon. Tác giả vào nhà này thì ngồi trên sàn nhà cũng như mọi người chứ không ngồi bàn ghế cao. Chủ và khách đều quỳ gối và ngồi trên bắp chân của mình. Lối ngồi này vẫn còn rất phổ biến ở Nhật và Triều Tiên ngày nay. Bà già chủ nhà đưa bát cơm cho Lý Bạch thì cũng quỳ như thế, và bưng bát cơm cho ông.)
Trăng tỏ chiếu rõ tấm bàn mộc. (Bàn này không đánh dầu hay sơn chi cả. Cứ để gỗ thô thôi.)
Làm tôi xấu hổ với Phiếu Mẫu. (Đây là tích "bát cơm Phiếu Mẫu" kể chuyện Hàn Tín cơ hàn được bà già cho ăn cơm rồi sau này mới làm nên sự nghiệp lớn.)
Cám ơn mấy lần chứ không thể ăn được.
Bà già giặt tẩy tơ sợi bên sông thấy Hàn Tín đói khổ mới cho cơm ăn. Hàn Tín coi bà như mẹ. Hàn Tín lên ngôi vua, biếu bà nghìn vàng. Vì thế có thành ngữ "bát cơm Phiếu Mẫu ngàn vàng - Nhất Phạn Thiên Kim
一飯千金."

VietFiddle.

Có một điều chắc VietFiddle đã đăng lầm lúc vội viết là Hàn Tín không làm vua. Ông là một lính của Sở Bá Vương Hạng Võ. Vì bất mãn với Sở ông đầu quân cho Lưu Bang. Sau nhờ tiến dẫn của Tiêu Hà ông đã được phong tướng. Lúc Lưu Bang gần chiếm hết TQ, Tiêu Hà lại lừa ông vào bẫy của Lã Hậu và bị chém. Trong cuộc chiến Hán Sở tranh hùng, ông là một tướng đại tài và việc luồn trôn chịu nhục của ông đã trở thành câu chuyện dạy đời sau này.

Chân thành cám ơn nhóm hay bạn VietFiddle đã làm sáng tỏ thêm về bài thơ này.

VHKT

Tuesday, April 15, 2014

Gương sáng thế giới: Winston Churchill


Sir Winston Leonard Spencer-Churchill (30 tháng 11, 1874 – 24 tháng 1, 1965) là một nhà chính trị người Anh, nổi tiếng nhất với cương vị Thủ tướng Anh trong thời Thế chiến thứ hai. Ông từng là một người lính (trung úy), nhà báo, tác giả, họa sĩ và chính trị gia. Churchill từng bị đúp năm lớp 6. Ông dành thời gian để tự học qua các cuốn sách mà ông đã thu thập được lúc ông là một quân nhân đóng tại Ấn Độ.



Ông tham dự kỳ thi vào Trường Harrow, một trườngtrung học nam ở Luân Đôn, nhưng khi làm bài tiếng Latin, ông đã cẩn thận viết tước vị, tên ông, số 1 và tiếp sau là một chấm, và không thể viết thêm được gì. Tuy vậy, ông vẫn được nhận vào trường, nhưng bị xếp vào lớp cuối nơi dạy chủ yếu môn tiếng Anh, môn ông học rất giỏi. Hiện nay, ngôi trường công có lịch sử lâu đời này hàng năm có trao một giải thưởng về tiểu luận mang tên Churchill với đầu bài do vị trưởng khoa tiếng Anh ra đề. Dù vậy, ông chứng tỏ khả năng xuất sắc trong những lĩnh vực như toán học và lịch sử, đối với hai môn này ông luôn đứng đầu lớp.

 Ông cũng bị đánh bại ở tất cả các vị trí trong những cơ quan chính phủ mà ông xin vào. Tuy nhiên, tới năm 62 tuổi, Churchill đã trở thành Thủ tướng Anh. Ông tự nhận mình là "một người bi quan luôn thấy sự khó khăn trong mọi cơ hội" và "một người lạc quan luôn tìm thấy cơ hội trong mọi khó khăn".

Vợ già chồng ... chồng trẻ


Khi tôi cưới vợ thì cô nàng thua tôi 14 tuổi. Tôi nghĩ như vậy à quá quắt lắm rồi. Nhiều người xù xì bàn tán và lắm chàng cho tôi là may mắn. Nhưng quý vị có biết rằng khi vua Gia Long lên ngôi, thì đã 40 tuổi, và các quan trong triều khi có con gái 16, đẹp là cứ thi nhau đem nộp. Cụ Nguyễn Trãi chẳng làm vua và gặp Thị Lộ lúc 16 còn ông đã 36 vậy chả ai xù xì, đã thế cụ còn có 5 bà hầu quanh. Chỉ tiếc mình không tài như cụ. Tức thật!

Nhưng đến ngày nay, với cái thời buổi văn minh của các phi thuyền không gian thì có nhiều chuyện kì cục hơn nữa quý bạn ạ.

Các bạn có biết Hugh Hefner không? Ông này là cha đẻ ra tạp chí làm mấy ông khoái nhất Play Boy với tiền một tháng thu vào khỏang US$300000.oo.  Năm 2013 cưới với người tình trẻ kém ông tận 60 tuổi . Hugh Hefner năm nay 86 trong khi Crystal Harris mới 26 . Không lâu sau đám cưới , nguồn tin trên Celebuzz cho biết , cặp vợ chồng chênh lệch tuổi tác nhất làng giải trí thế giới mong muốn sớm có con chung . Lẽ dĩ nhiên cô này chắc yêu tiền hơn là yêu người và cô cũng đã cho thiên hạ nhìn cô khắp nơi trên thân thể.

Hugh Hefner năm nay 86 trong khi Crystal Harris mới 26. 

Celine Dion thì ngược lại. Cô là một ca sĩ người Canada gốc Pháp. Tên tuổi của cô vang lừng khắp chốn và được nhièu người biết qua các cuộn phim của Hollywood. Năm 1980, cô 12 tuổi  thì đã vào ngành ca nhạc và gặp ông bầu René Angélil, 38 tuổi, rồi nẩy nở tình yêu.


 
Celine Dion & René Angélil

Monday, April 14, 2014

Thơ Lý Bạch


宿五松山下 荀媼家     

 

       Túc Ngũ Tùng sơn hạ  Tuân ảo gia

我宿五松下,                       

Ngã túc ngũ tùng hạ
寂寥無所歡。                       

Tịch liêu vô sở hoan .

田家秋作苦,                       
 Điền gia thu tác[1] khổ

鄰女夜舂寒。                       

Lân[2] nữ dạ thung[3] hàn .

跪進雕胡飯,                       

Quỵ[4] tiến điêu[5] hồ phạn

月光明素盤。                       

Nguyệt quang minh tố[6] bàn

令人慚漂母                       

Lệnh nhân tàm[7] phiêu[8] mẫu

三謝不能餐。                       

Tam tạ bất năng xan[9] .

李白                              Lý Bạch

 


Ngủ trọ dưới chân núi 5 cây Tùng

Hôm nay ngủ dưới Ngũ Tùng.                                               

Làng cô, xóm tịnh, lạnh lùng chẳng vui.                    

Đàn ông cầy cấy ngậm ngùi.                                     

Đàn bà xay, dã chôn vùi thâu đêm.                            

Bà già dưng chén cơm lên.                                        

Đơn sơ, trăng tỏa bên trên mặt bàn.                          

Lòng tôi xấu hổ muôn vàn.                                        

Không ăn, cảm tạ thở than vài lời.                            

                        VHKT- 2008

 

Tôi nghỉ chân Ngũ Tùng.       

Cô tịch lại lạnh lùng.

Đàn ông cầy vất vả.

Đàn bà xay đêm cùng.

Bà già dâng cơm chén.

Trăng chiếu bàn mung lung.

Lòng tôi thấy xấu hổ.,

Cảm tạ chẳng dám dùng.

                                                VHKT- 2008



[1] Tác: làm việc.
[2] Lân: lân cận.
[3] Thung: giã (gạo)
[4] Quỵ: 1. quỳ gối. 2. chân cua
[5] Điêu: 1. khắc, chạm. 2. chim diều hâu, con kên kên.
[6] Tố: 1. tơ trắng. 2. trắng nõn. 3. chất.
[7] Tàm: tủi thẹn.
[8] Phiếu: 1. tẩy vải cho trắng. 2. thanh lịch, lịch sự. Phiêu: trôi nổi.
[9] Xan: 1. Ăn. 2. bữa cơm