Sunday, September 21, 2014

Những Ngày Không Mặt Trời - Bai 2

(tt)


Gia đình tôi lúc này, có tôi là lớn nhất vì người chị cả, Cẩm Lý, vẫn còn ở ngoài Bắc. Sau tôi là Cẩm Dung (tên chính thức là Thanh Mai) và cậu em út Võ Thắng.

Trong những ngày đầu cư ngụ ở đây, chúng tôi làm bạn với hai anh em Thiện, Thanh, con ông Đỗ Đức Tâm trưởng ty ngư nghiệp Vũng Tàu. Họ cũng cỡ tuổi tôi, và đang theo học bậc trung học đệ nhất cấp (cấp 2) tại trung học Vũng Tầu.

Để vật lộn với cuộc sống mới, cha mẹ tôi đã phải đi tìm việc làm ở ngay đó cũng như ở Sàigòn. Hơn nửa tháng sau, ngày 25 tháng 4 năm đó, bố mẹ tôi phải lên Sàigòn để tìm việc. Nhưng rủi thay, hai ngày sau (27- 4) những trận đánh đẫm máu giữa lực lượng Bình Xuyên và phe thủ tướng Diệm đã bộc phát trên các đường phố của thành phố này.

Hàng ngày, báo chí đăng tải các tin tức của các trận đánh cùng và hình ảnh chạy loạn của dân chúng với những cảnh phố phường bốc lửa làm ba anh em chúng tôi lo lắng cho số phận của bố mẹ vô cùng. Đã vài ngày trôi qua, chúng tôi vẫn không thấy bố mẹ về. May thay, bố mẹ tôi bình an trở về khi Cẩm Dung bắt đầu thun thít khóc.

Dù rằng niên học gần hết, bố mẹ tôi cũng quyết định cho tụi tôi tiếp tục việc học hành. Sau một thời gian dài không đi học, Cẩm Dung học lớp ba trường nữ tiểu học, còn tôi theo học lớp nhất trường nam tiểu học. Nhưng chỉ một tuần sau, tôi được "thăng xuống lớp nhì," vì không biết một chữ Pháp nào hết. Trong thời gian ấy, hệ thống giáo dục của miền Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa Pháp, vì vậy học sinh lớp ba đã bắt đầu học tiếng Pháp. Tôi thì từ vùng kháng chiến mới ra Hà Nội và tại đây tôi chỉ biết chẻ củi, giao củi, nên không biết un (một), deux (hai) là gì thì làm sao viết chính tả (dictation), đọc bài thuộc lòng (recitation)…

Lớp tôi học là lớp nhì B mà và thầy giáo của lớp là người ở ngay cạnh nhà tôi: thầy Thân. Trong lớp, ngoài tôi ra còn Tước là người miền Bắc, và số còn lại toàn là người miền Nam.

Tình trạng kinh tế của nhà tôi càng ngày càng bi đát, vì đã mấy tháng bố không tìm ra được việc gì làm, cả nhà chỉ trông vào việc may thuê của mẹ. Hàng ngày, chúng tôi chỉ ăn cơm với một món ăn duy nhất: nước mắm hạng dở. Vì ăn nước mắm quá lâu, nên chúng tôi rất ngán món ăn đó. Khi nhìn mâm cơm, chúng tôi không muốn ăn, nhưng vì đói quá nên ráng ăn để mà sống.

Một hôm, bố nói cho chúng tôi biết ông có một món ăn mới. Anh em chúng tôi hồ hởi mừnh thầm. Quả nhiên, ngày hôm sau, ông bưng cho chúng tôi món ăn mới đó. Món ấy không phải là nước mắm thường mà là nước mắm chưng (khô quẹt). Để giúp gia đình thêm món ăn, vào các ngày cuối tuần hay ngày lễ, tôi dắt Cẩm Dung lên núi Lớn và Nhỏ bẻ măng le về. Công việc này hơi nguy  hiểm cho chúng tôi bọn trẻ con, nhất là con gái như Cẩm Dung, vì trên hai núi rất hoang dã và ngoài trăn rắn, chúng tôi thường thấy vết lợn lòi (heo rừng). Nhưng là vì dân đi rừng từ lúc 8 tuổi để chăn trâu bò, nên đối với tôi chuyện heo rừng không đáng ngại.

Một đêm, tôi đang ngủ say thì chợt thức giấc vì một tiếng  động.

Vài phút sau, tôi nghe tiếng mẹ nói:

- Vậy ông tính sao?

Bố tôi chậm rãi nói:

- Còn tính sao bây giờ? Tôi đã chạy đôn, chạy đáo để tìm việc làm mà không được. Hôm trước, tôi được gọi về trình diện ở phủ Thủ Tướng, vì có việc liên quan đến đơn xin hồi ngạch của tôi, nhưng cuối cùng bác sĩ Tuyến[1]  cũng đã bác đơn ấy viện cớ tôi đã tham gia cuộc đảo chánh 1945, và dính dấp tới nhà ông Ngô đình Khôi. Nhưng thật ra tôi chẳng có liên quan gì đến nhà ông ấy cả.

- Chuyện liên quan gì chứ?

Tiếng thở dài của bố:

- Năm 1945, lúc đảo chính, tôi được lệnh kiểm kê hoàng cung. Song họ nói tôi kiểm kê nhà ông Khôi và lấy đi cái xe đạp. Nếu tôi lấy thì bà biết rồi, làm sao giấu được.

- Sao ông không cãi lại?

- Có chứ! Nhưng họ cứ gán thì làm sao ra bằng cớ?

Mẹ thở dài:

- Nhà mình hết tiền rồi, làm sao mà sống bây giờ?

- Hay là mình mua hai thùng cà rem cây cho thằng Hiệp với con Cẩm Dung đi bán, nếu không, mình phải bán một cái lục bình cổ lấy tiền mua gạo. Còn biện pháp cuối cùng là đi vay tiền nặng lãi.

Mẹ tôi ngắt lời:

- Tôi đồng ý cái ý kiến đó, nhưng ông nhớ mình chỉ con vài cái lục bình cổ la gia tài đấy. Thôi mình lấy cái bình hoa nhỏ ra lau cho sạch bụi, trước khi đem bán cho nó có giá.

Tôi nghe bố mẹ lục hục cậy cái thùng gỗ, để lấy cái lục bình ra. Từ ngày chạy từ Bắc vào Nam nhà tôi chỉ có cái thùng gỗ dài 70 phân, rộng 40 phân, cao cũng cỡ ấy là gia tài. Trong thùng chứa vài cái lục bình cổ và một số lưỡi cuốc, thuổng mà bố cho là thép tốt. Những cuốc thuổng này bố đem về từ Phủ Quỳ- Nghệ An đến Lam Sơn- Thanh Hóa, rồi ra Hà Nội  vào đến đây. Có lẽ bố chuẩn bị cho việc làm nghề nông sau khi định cư ở miền Nam. Bất thình lình, tôi nghe một tiếng "choang." Chẳng biết người nào đã vô tình làm rơi cái lục bình xuống đất.

Mẹ cố hạ giọng thấp than:

- Trời ơi! Cái bình vỡ mất rồi!

Giọng bố tôi luyến tiếc:

- Chưa vỡ! Nó chỉ bị móp thôi! Cái lục bình này làm bằng đồng mà.

- Vậy ông liệu có thể bán nó được không?

- Để tôi cố gắng xem sao?

Ngày hôm sau, bố tôi gói cái lục bình, đem đi bán cho các chủ tiệm hai bên chợ, nhưng ông đã tốn cả ngày mà chẳng ai mua, và cuối cùng ông đành đem nó trở về.[2] Chẳng còn cách nào hơn, bố mẹ phải đi vay nặng lãi để có chút tiền mua gạo sống qua ngày.



 
Vũng Tàu ngày nay

***




[1] Bác sĩ Trần Kim Tuyến quê tại Nga Sơn- Thanh Hóa, người công giáo, làm giám đốc cơ quan có tên là Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội- Một cơ quan Tình Báo- Phản Gián tối cao của ông Diệm.
[2] Vì bị ế, nên hiện nay lục bình này vẫn nằm trong tủ kính nhà tôi.

Friday, September 19, 2014

July 4-2011 Du Kí- bài 12


Nhưng đây chỉ là các pho tượng đồng chứ không phải người thật. Đừng tưởng bở.

Khi vừa vào trong ấy, cũng như các khách sạn khác, trước mặt chúng tôi là một rừng máy kéo chơi bài với âm thanh ồn ào của các máy bị người ta hành hạ. Chúng tôi nhận phòng rồi theo thang máy lên lầu 18. Nếu bạn đến đây phải học thuộc đường đi kẻo bị lạc vì khách sạn chỉ có 2100 phòng mà thôi.

Nevada có diện tích 110,622 sq mi (286,367 km2), rộng hàng thứ 7 trong số 50 tiểu bang Hoa Kỳ. Dân số theo thống kê mới nhất  2 758 931 người, đứng hàng thứ 42. Tên Nevada là rút ra tên dãy núi Sierra Nevada (Sierra Nevada theo chữ Tây Ban Nha có nghĩa là Đỉnh núi tuyết) nằm phía tây, một phần của bang này và phần lớn hơn thuộc California. Cũng vì dãy núi cao ấy, chặn hết mưa từ phía tây lại nên đa số đất đai của bang là sa mạc.

Lịch sử thành hình của bang này liên hệ chặt chẽ với Texas và California. Khi người Mễ kiểm soát tây Hoa Kỳ, thì tiểu bang này được coi như là một phần của Alta California. Khoảng 1800, đa số người định cư tại miền tây Texas đều thích là công dân Texas độc lập. Tháng 10 năm 1836, dân nơi đây bất mãn với sự cai trị của người cầm đầu Mễ Tây Cơ, nên đã nổi dậy làm một cuộc cách mạng mà lịch sử Mỹ ghi là Texas Revolution. Từ đó sinh ra cuộc chiến giữa phe nổi dạy và chính quyền Mễ. Năm sau, 1836 có một trận đánh lừng danh lừng danh mà người Saigòn trước 75 hầu hết đều nhớ: trận Alamo trấn thủ bởi 180 lính Tesax. Trong trận này tướng Santa Anna của Mễ Tây Cơ bao vây đồn Alamo với một lực lượng đông gấp mười lần quân giữ thành. Đồn cuối cùng bị tràn ngập cả đồn bị tàn sát gồm luôn ba người anh hùng tử thủ là James Bowie, William B. Travis cùng Davy Crockett. Ai thì bạn quên được, nhưng Davy Crockett thì chắc không quên nổi.

Chẳng bao lâu sau quân Texas phản công ở trận bên sông San Jacinto. Trong trận này Mễ đã bị thua và tướng Santa Anna bị bắt ở một đầm khi đang cải trang là một người lính. Vì là tù nhân, ông đã phải ký một hiệp định công nhận Texas là một cộng hòa độc lập. Tuy nhiên, chính quyền Mễ đã truất vị của Santa Anna, nên hiệp ước trên không bao giờ được thi hành.

Sau năm 1845, khi Hoa Kỳ nhận Texas làm tiểu bang thứ 28 (Đây là thời kỳ người Pháp đang chiếm Đông Dương). Kể từ đó ảnh hưởng Hoa Kỳ mỗi ngày một mạnh tại miền tây nam. Rồi tới năm 1864, Nevada trở thành tiểu bang thứ 36 của Mỹ.

Las Vegas là thành phố lớn nhất bang, được thành lập năm 1905 nhưng chính thức chấp nhận năm 1911. Dù là lớn nhất, nhưng Las Vegas không phải là thủ phủ của bang. Thành phố Carson City phía tây bắc, cạnh lake Tahoe mới là thủ phủ.

Thành phố Las Vegas ở trên sa mạc ít nước, nên dân cư thưa thớt cho tới cuối thập niên 20s. Năm 1931, chính phủ Mỹ quyết định xây đập Hoover damp trên sông Colorado, để đem nước về nam California. Một số đông thợ được tuyển mộ làm đập. Để giải trí, một đạo luật được thông qua cho phép mở sòng bài. Kể từ đó, thành phố càng ngày càng phát triển để trở thành kinh đô bài bạc. Ngoài bài bạc, các sòng bài này còn có các “show” (màn trình diễn) từ ca nhạc, ảo thuật, xiệc, đến múa rất sexy.

Người Mỹ gọi đây là Sin City (thành phố tội lỗi) với bài bạc ăn chơi. Tuy biết nơi đầy tội lỗi nhưng người ta vẫn thích đến đây để phạm tội. Tất cả người tôi quen, ở tại các nơi xa trên đất Mỹ hay du lịch từ nước khác đến đều đã ghé qua đây. Xem ra trên đời này hầu hết là muốn phạm tội lỗi, chẳng mấy kẻ thật sự tránh các chuyện ấy. Bản thân tôi cũng viếng đây vài lần: một lần đầu là du lịch còn mấy lần sau do hãng cử đi công tác. Tôi muốn tìm hiểu cách chơi bài, nên đã bỏ vào mấy các đồng rồi kéo cần. Sau này, nếu ai hỏi: “Có biết cách kéo máy chơi bài không?” Tôi sẽ trả lời là “Có!” để khỏi mang tiếng quê mùa. Tuy thế, tôi cũng thua tổng cộng khoảng 5 đô la vì biết đó là tội lỗi. Này phải nói với bạn đọc bản thân tôi rất đạo đức (giả) đó nhe: không bài bạc, không rượu chè, không hút sách. Trong “Tứ đổ tường” tôi tránh tới 75% đó.

Phải nói cảm tưởng của tôi lần đầu đến đây năm 1990, thì thật ngỡ ngàng vì không thể tưởng giữa một sa mạc nóng bỏng lại có một thành phố đẹp đến thế với các building khổng lồ cùng các tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp.








Ngày ấy, khách sạn khách sạn Caesar lớn nhất với gần 4000 phòng nên các cuộc tranh tài vô địch quyền Anh thường diễn ra tại đây và trực tiếp truyền hình. Một đêm bọn chúng tôi chen chúc vào đây xem cho biết. Chẳng hiểu đêm ấy tại khách sạn này có một chương trình gì đặc biệt mà đông như vậy? Khi vào bên trong, người đông quá chật ních như nêm, di chuyển khó khăn. Chúng tôi thấy ngay chính giữa phòng, có vài pho tượng. Trong số ấy, một pho tượng lực sĩ da đen, bắp thịt cuồn cuộn, nước da bong loáng, một tay cầm kiên, che phía trước, một tay cầm kiếm dơ lên trên. Pho tượng này đứng trên một bệ quay quanh từ từ. Người diêu khắc da này đã đạt trình độ tối thượng. Nhìn vào pho tượng lắm khi người ta nghĩ là người thật. Chen nhau một lúc chúng tôi sang phòng chơi bài, thấy chán lại rủ nhau chen qua đám đông ra ngoài. Đến phòng chính chúng tôi thấy pho tượng hạ tay, bước xuống để “pho tượng khác” lên thay.

Mặc ai đi vào song bài, tôi chỉ đem máy hình đi chụp các công trình kiến trúc và các pho tượng hoặc thác nước…

Đến nay các khách sạn mọc ra nhiều hơn, và lớn hơn.

Nói về khách sạn lớn thì thành phố này có nhiều khách sạn mà số phòng hơn con số 4000 rất nhiều. Nên tôi nói khách sạn Riviera nơi chúng tô nghỉ đêm chỉ 2100 phòng là vậy. Tên các khách- casino tường có một xuất sứ lừng danh như huyền thoại, vùng đất nào đó…

Con số các khách sạn lớn phải kể tới:

* Aria với 4004 phòng. Khách sạn lấy tên từ một bản nhạc lừng danh ở Ý, nhưng tên có xuất sứ từ Hy Lạp.

* Excalibur 4032 phòng. Tên này lấy từ sự tích thanh kiếm “thần” mà vua Arthur- Anh quốc- đã dùng giả phóng dân tộc nước này vào cuối thế kỷ 5 đến đầu thế kỷ 6, khi các bộ lạc gốc Đức xâm lăng. Sự tích về thanh kiếm này thì có nhiều huyền thoại. Một huyền thoại là vua Arthur và hội Hiệp Sĩ Bàn Tròn rút gươm. Tất hiệp sĩ không thể rút thanh gươm từ một tảng đá. Ông là ngưoì duy nhất rút ra được. Sự tích khác là vua Arthur được nữ thần hồ nước tặng ngài. Vời tên này, khách sạn-casino được xây theo kiến trúc trung cổ Âu Châu.

* The Venetian 4049 phòng. Có nghĩa là dân Venice ở Ý, nơi này ăn chơi thanh lịch với các người chèo thuyền gondolier.

Giữa một sa mạc nóng kinh hồn, nhiệt độ mùa hè luôn trên 100oF (38oC) mà có các cảnh dòng sông Venice trong xanh với các thuyền chèo gondola thì quả tình thơ mộng quá. Nếu có bồ đem lên đây trong một chiều tối, thuê một chiếc thuyền nhỏ để một gondolier chèo và hát một bài tiếng Ý, trong khi nhâm nhi ly rượu nho thì thú vị lắm nhỉ?

* Luxor 4407 phòng. Lấy từ tên vùng đất ở bắc Ai Cập cổ.
Nguyên nghe tên Ai Cập là ta nghĩ tới Kim Tự Tháp. Vì vậy ta không ngạc nhiên khi thấy kiến trúc của khách san có hình dạng một khối tháp tân kỳ, lợp kính.



* Tuy nhiên, kách san-casino siêu hạng là MGM grand đã có số phòng lên tới 6852 cái.

Tên MGM thì ta biết ngay do công ty MGM làm phim xây. Phim của hãng luôn luôn khởi đầu với đọan phim biểu hiệu hãng là con sư từ gầm gừ. Nói nhỏ cho các bạn nghe thôi nhe, hình ảnh này giống bà xã tôi lúc nổi cơn tam bành quá. Vì vậy ngay trước cửa ra vào ta thấy tượng sư tử vàng. Đẹp hay không là do cảm quan của bạn, còn riêng tôi vừa thấy đẹp vừa thấy sợ.

Khách sạn này đứng hàng nhất của Mỹ, nhưng đứng hàng thứ 2 trên thế giới. Bạn có biết khách sạn nào lớn nhất thế giới không? Đó là khách sạn Izmailovo ở thủ đô Mạc Tư Khoa của Nga, với 7500 phòng, xây trứơc năm 1980 để phục vụ vận động viên trong thế vận mùa hè 1980. Tuy nhiên, 10 khách sạn lớn nhất thế giới thì tại thành phố tội lỗi này đã chiếm tới 6 cái và nước Mỹ chiếm tổng cộng 7 cái.

Thursday, September 18, 2014

Đại Việt thắng Nguyên Mông- bài 65


Quân ta cắm cọc trên các ngả sông dẫn ra biển dựa vào bãi cũ của thời Ngô Quyền. Các bộ phận cắm cọc cũng được huấn luyện, tập dượt thành thạo.


Đầu tháng ba, đường đất khô khan, nên kỵ binh di chuyển dễ dàng hơn mấy tháng kế tiếp. Lợi dụng yếu tố thiên thời, Thoát Hoan ra lệnh đội binh của Ô Mã Nhi theo đường thủy rút lui trước, còn y sẽ đóng binh tại đây cho để làm lạc hướng quân Việt.

 Ô Mã Nhi đem 60000 quân rút lui bằng thuyền, từ Vạn Kiếp; Phàn Tiếp dẫn 50 thuyền đi tiên phong; Tích Lệ Cơ chỉ huy 50 thuyền đi đoạn hậu. Trên bộ có sự hộ tống kỵ binh do Trịnh Bằng Phi và Đạt Mộc điểu khiển. Để chở thêm các lương thực, quân dụng vũ khí, có cái, chúng chở cả catapult (súng bắn đá), nỏ phóng lao; cứ một bách phu đội (100 lính) xuống một thuyền do bách phu trưởng chỉ huy, thì đoàn quân này phải cần tới 600 chiếc.


Ngay khi nhận lệnh, để quyết định đường rút lui, Phàn Tiếp sai Thiên phu trưởng Phạm Nhan đem một đội 10 thuyền lớn và vài thuyển nhỏ, nhẹ trong đoàn chu sư đi tiên phong tìm hiểu sông Thái Bình. Từ đại bản doanh bên bờ bắc sông Đuống muốn sang con sông này phải qua một đảo lớn, rồi tới cửa vàm sông này.
Trời mới hừng hừng sáng, Phàn Tiếp theo chương trình cho một vài thuyền trinh sát nhẹ vào đây sơ thám. Nhóm trinh sát thấy tuy là mùa ít nước, nhưng vàm sông khá rộng, độ chừng 150 hay 160 trượng (600-700 m). Nếu cho thuyền đi giữa sông sẽ tránh được cung tên hai bên bờ. Một bất lợi cho chúng là, phía bên bờ hữu ngạn này, kỵ binh hộ vệ không có vì nhiều sông lớn chặn ngang. Vào sâu vài chục trượng, đội trinh sát thấy một số lính Việt đang đóng cừ. Toán lính Đại Việt thấy thuyền Nguyên bèn bỏ chạy. Đội này về báo cho Phàn Tiếp. Y nghĩ, đây là toán làm rào cản chưa xong, nên cho Thiên phu trưởng Phạm Nhan tiến vào.
Đội này tiến vào rất cẩn thận, theo đội hình chữ nhất, súng bắn đá đã sẵn sàng. Trên mỗi thuyền, một thập phu trưởng (chỉ huy 10 người) sẽ phải đứng đầu mũi để quan sát và chỉ huy đội hay thông báo cho bách phu trưởng chỉ huy toàn thuyền. Thiên phu trưởng chỉ huy đứng trên thuyền thứ hai. Binh lính được lệnh che kiên kín mít tránh phục kích bằng cung thương; Các đạn đá được cho vào súng phóng. Thuyền này cách thuyền kia khoảng 25 trượng (100 m), vừa tầm bảo vệ lẫn nhau. Đoàn thuyền tiên phong tiến vào cẩn thận, chậm chạp.
Tướng chỉ huy đội nghĩ, sông bị rào 1 nửa, thuyền tránh rào nhưng vẫn cách bờ trên tầm tên trung bình. Nếu quân Đại Việt có bắn nỏ, cung thì tên rơi xuống nước nhiều hơn đến thuyền. Thuyền vào dần dần, và chiếc tiên phong đã đến rào cản. Viên thập phu trưởng đứng đầu mũi thuyền quan sát hàng cây rào. Y chẳng thấy gì, trừ các mảng rong, bèo bị hàng rào cản lại, dật dờ trên sông, dưới lớp hơi nước bốc lên làm thành một màn sương mỏng. Dù có các chướng ngại vật ngăn chặn, nhưng không gian có vẻ êm đềm. Tuy vậy binh lính vẫn cảm thấy một cái gì nguy hiểm đang đe dọa.
Tất cả 5 chiếc thuyền đã vào con sông này.
Đột nhiên tiếng voi hống lên phía sau hàng cây, đối diện với rào cản, mỗi lúc một xa. Tất cả lính trên chiếc đầu tiên ngảnh nhìn về phía ấy, chẳng hiểu chuyện gì. Nhưng viên viên thập phu trưởng chỉ huy đầy kinh nghiệm, liếc mắt nhìn về chỗ ấy rồi quay nhìn sang hàng cây cừ. Y giật mình khi thấy một con quái vật ở dưới đám bèo trên mặt sông đang phóng đến thuyền y nhanh vô cùng làm nước bắn tung trắng xóa trong sương. Vì trời chưa sáng, cái cảnh này nhìn thật khiếp đảm. Trên đời, y chưa bao giờ thấy loại thủy quái nào bơi nhanh như vậy. Y la thật lớn : "Coi chừng!"
Tất cả mọi người cùng quay lại, thấy các mảng bèo trôi giạt sang hai bên; đầu con quái vật nhô lên cao, nhưng không ai có thể thấy rõ mặt nó ra sao vì nước trào qua đầu, tạo thành các làn sóng cuồn cuộn rẽ sang hai bên.
Y hét lên ra lệnh cho thuyền ngừng lại, nhưng quá trễ, phần đầu thuyển đã qua hàng cừ, vì sức chèo của mấy chục thủy thủ. Thiên phu trưởng, trên thuyền thứ hai ra lệnh dừng chèo, phóng đá, bắn cung vào hai bên bờ, dù là chẳng thấy gì. Bốn chiếc thuyền còn lại cùng thi nhau bắn đá túi bụi vào hai bên bờ. Chỉ có loại súng này đá mới rơi vào tới bờ còn tên bay không tới nổi.
Chỉ một khoảng khắc ngắn ngủi, con quái vật đâm thẳng vào thuyền. Ầm một tiếng, con thuyền to lớn nghiêng hẳn sang một bên. Viên thập phu trưởng là một tay võ công giỏi, nên y lập tức chuyển thế lấy cân bằng cho khỏi té. Nhưng đột nhiên thuỳên lắc bất ngờ lần nữa. Dù tài năng thế nào đi nữa y cũng không kịp đổi thế nên ngã tòm xuống sông. Vô phước cho y, y rơi ngay vào con quái vật, thân cứng như gỗ, mà mũi thuyền cách mặt sông đến gần 1 trượng làm y đau quá bất tỉnh và chết đuối sau đó. Trên thuyền, lính Nguyên la hét vang trời; lính ở các thuyền phía sau thấy cảnh ấy cũng không giữ nổi bình tĩnh.
Một số binh cạnh be thuyền cũng chịu chung một số mạng. Chiếc thuyền này bị kéo vào gần bờ đối diện thêm khoảng 10 trượng. Bấy giờ mới thấy tên giáo, phóng ra; từ bên ấy, tấn công tới tấp, làm lính trên chiếc thuyền đang chìm lớp chết, lớp bị thưong. Nơi này là tầm của tên bắn ra. Mũi thuyền từ từ chìm xuống làm cây súng phóng đá chạy tuột về phía ấy rồi đâm sầm xuống nước.
Phía sau rừng cây, quân lính reo hò.
Số lính còn sống sót quăng vũ khí, bơi vào chiếc thuyền của tướng Thiên phu trưởng. Viên tướng này phải cho lính trên thuyền cứu cả đám kia.
Cùng lúc ấy, 3 chiếc sau được lệnh quay ngược lại để rút lui.
Chiếc cuối cùng của toán đang loay quay ở gần đầu vàm thì đột nhiên thấy con thủy quái khác phóng ra từ đám cây, bèo bên sông. Vì sự quay đầu chậm chạp nên thuyền không sao tránh nổi cái húc của con thủy quái. Rầm một cái, thuyền nghiêng qua lắc lại rồi dần dần chìm.
Tiếp theo đó, trên mặt sông bỗng trắng xóa, các con quái vật phóng ra đánh vào hai chiếc còn lại. Chiếc thứ hai chỉ bị húc nhẹ phía mũi, nên cố chèo nhanh ra khỏi sông, trong khi con thủy quái đã bơi qua và đuôi hướng lại thuyền. Trên thuyền, ai nấy hý hửng mừng thầm. Nhưng nguy hiểm vô cùng, bỗng nhiên con quái vật bơi lộn ngược, đuôi đi trước, đầu đi sau. Tuy nhiên, nó bơi chậm hơn lúc bơi đầu đi trước. Con thuyền không còn cách nào là hứng cái húc thứ hai vào phần cuối cùng.
Mọi người trên chiếc của Thiên phu trưởng Phạm Nhan thấy cảnh tượng quái đản này đều hết hồn. Ai nấy đều nghĩ là sắp tới phiên chúng xuống gặp hà bá. Quả tình, lúc đang vớt lính dưới sông, thì một con quái vật khác trong bờ phóng ra. Nhưng may quá, nó đâm hụt thuyền, tuy vậy, chiếc chèo lái thuyền bị nó khúc gẫy tan tành. Vì không còn lái nên sự di chuyển thật khó khăn. Nhiều con thủy quái phóng ra tấn công nhưng may cho chúng, tất cả đều hụt. Viên tướng chỉ huy ra lệnh chèo thật gấp ra khỏi con sông quái đản. Tuy thoát được ra sông, nhưng thuyền bị thủng nhỏ vài nơi vì va phải các thuyền chìm bên ngoài. Lúc ra khỏi bờ, thì các thuyền khác trong đội hộ tống y về đến đại quân, lúc mặt trời mới mọc.
Dù là ở khá xa, nhưng Ô Mã Nhi cũng thấy cảnh hỗn độn bên kia sông, cùng tiếng la hét kiếp đảm vọng lại. Y liền cho một số lính leo lên đỉnh cột buồm quan sát tình thế. Các lính này xuống báo cáo rằng chúng thấy cờ khói bao phủ cả vùng ở nơi xa mà trên sàn thuyền không thấy được.
Phạm Nhan đến báo cáo cho Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi. Nhi lập tức thông báo cho Trịnh Bằng Phi kế hoạch mới. Con sông không thể dùng được nữa phần thì có phục kích, phần thì mấy thuyền chìm làm việc tiến quân khó khăn.

Wednesday, September 17, 2014

Hải quân thế giới sau thế chiến II (tt)


C– STOVL

Chữ STOVL là gọi tắt của Short Take-Off and Vertical Landing aircraft.

Đây là kiểu thiết kế cho các quốc gia dùng phi cơ harrier của Anh sản xuất. Loại Harrier có thể bay thẳng lên không mà không cần phi đạo. Tuy nhiên, nếu có 1 phi đạo ngắn, nó vẫn dể dàng cất cánh hơn. Trong trường hợp ấy nó có thể mang thêm một số vũ khí để tăng cường khả năng chiến đấu.

Vì lý do ấy, chỉ có các nước trong liên hiệp Anh hay khối Bắc Đại Tây Dương là có kiểu HKMH này. Ta thấy các nước sau đây đã có kiểu HKMH STOVL:

Anh- Ấn Độ- Ý- Tây Ban Nha và Hoa Kỳ.


II-                   TRỰC THĂNG MẪU HẠM (TTMH)

Đây là loại tàu đươc coi như giữ nhiệm vụ hỗ trợ và đổ bộ lên các bờ biển. Đầu tiên người ta chỉ nghĩ tới loại này chỉ chở hay làm bãi đáp cho trực thăng, nhưng dần dần nó có thể áp dụng cho các loại máy bay STOL.


Vì nếu không có sự xuất hiện của trực thăng thì chẳng cần làm Trực Thăng Mẫu Hạm. Phần viết này liên quan đến trực thăng nên ta tìm hiểu sơ qua loại máy bay này. Trực thăng có một nguồn cội lịch sử thật lâu rồi, cách đây đến gần 2400 năm. Nó xuất hiện như là một loại đồ chơi của trẻ con ở các nước Đông Phương. Đồ chơi này chỉ vỏn vẹn một cái cán và bên trên là một miếng tre dẹt, mỏng, giống như chong chóng. Đứa bé kẹp cán giữa hai bàn tay, rồi xoa tay ngược chiều và thả ra thì vật ấy bay lên trời.
                                                                   

Mona Lisa
Tuy nhiên, Tây phương lại áp dụng ý niệm này để tạo ra các vật to lớn chứa được người và nhiều thứ mà ngày nay ta gọi là “trực thăng”.
Chuyện người Âu Châu phát triển được trực thăng cũng chẳng phải một sớm một chiều mà cũng đã trải quan mấy trăm năm. Người đầu tiên đã làm bùng lên phong trào nghiên cứu trực thăng là thiên tài người Ý- Leonardo di ser Piero da Vinci - một họa sĩ, một kỹ sư, một nhà toán học, một nhà phát minh.
Nhưng thông thường, người ta biết đến ông là một họa sĩ tài ba qua bức tranh Mona Lisa.
Nếu các người theo Thiên Chúa Giáo thì chắc không thể không biết tới bức tranh dứơi đây.
Bức tranh này cũng do Leonardo di ser Piero da Vinci vẽ ra.
Trong thập niên 1480, ông đã thiết kế một vật bay lên trời với các chong chóng. Và theo ghi chú của ông thì ông đã làm một vật mẫu (prototype), nhưng đến nay người ta vẫn chưa có một chứng cớ cụ thể về việc này.
Thiết kế của Leonardo di ser Piero da Vinci .
Thêm vài trăm năm sau, các kỹ sư Nga, Pháp thi nhau tìm hiểu, đưa ra các mẫu nhỏ, nhưng phải đợi dến năm 1861 một nhà phát minh Pháp, Gustave de Ponton d'Amécourt, đã trình bày một vật mà ông gọi la Helicopter. Nhưng kết quả vật này cũng không thể bay lên khỏi mặt đất.
Tiếp theo đó, một thiên tài người Mỹ- Thomas Alva Edison- người đã có những bằng phát minh về điện, cũng cố gắng làm việc này vào cuối thế kỷ XIX và rồi cũng thất bại.
Năm 1906,hai anh em Jacques và Louis Breguet, người Pháp đã làm một vật chở theo một phi công bay lên khỏi mặt đất nửaa thước trong 1 phút. Đây là lần đầu mà người ta thấy được sự khả thi chế ra trực thăng.
Năm 1907, một nhà phát minh người Pháp khác: Paul Cornu đã design và làm ra một chiếc trực thăng thật sự "Cornu helicopter" bay cao 2 m, nhưng phải hủy vì không an toìan cho pilot.
Cornu helicopter
Trong thập niên 1920, một kỹ sư người Argentin - Á Căn Đình, làm việc tại Âu Châu- Raúl Pateras-Pescara de Castelluccio, đã trình bày chiếc trực thăng đạp máy như xe đạp bay, nhưng không kết quả. Sau này chính phủ Anh bỏ vốn để Pescara nhiên cứu tiếp. Ông đã dùng động cơ 250 mã lực đưa máy bay lên 10 phút.
Ngày 14 tháng 4 năm 1924, một kỷ sư Pháp Étienne Oehmichen đã thực hiện một chưyến bay dài 360 m. Chuyến bay được công nhận bởi hiệp hội hàng không quốc tế Fédération Aéronautique Internationale (FAI), là một trực thăng thật sự. Nhưng 4 ngày sau Pescara phá kỷ lục bằng cách bay 1 km ở độ cao 1,8 m.
Trực thăng Oehmichen
Trong khi ấy, ở Mỹ, quân đội đã lập chương trình sản xúât trực thăng cho lục quân, nhưng rồi chương trình bị bãi bỏ.
Đến năm 1928, Arthur M. Young, một nhà phát minh người Mỹ cộng tác cho hãng Bell đã làm việc trong 6 tháng và cho ra đời hai chiếc Bell 30 và Bell 47. Hãng Bell nay ở Texas, và là hãng đã chế tạo ra chiếc máy bay trực thăng mà người Việt chẳng thấy gì xa lạ: UH-1 Huey và AH-1 Cobra.
UH-1 Huey

Kể từ thập niên 30 về sau thì trực thăng đã trở thành quen thuộc và quân đội các nước tiên tiến đã áp dụng trực thăng càng ngày càng nhiếu. Và lẽ dĩ nhiên nước áp dụng nhiều nhất là Mỹ.

Nay ta quay lại với TTMH

Vì sự thay đổi liên tục cách áp dụng TTMH, nên bây giờ người ta lại chia TTMH ra làm bổn tiểu loaị. Tùy theo nhiệm vụ mà thay đổi thiết kế chút đỉnh.

a-      ASW- Anti Submarine Warfare carrier.

Đây là loại chở trực thăng hay các loại dùng phi đạo thật ngắn như F-35C, V-22 Osprey. Hải quân Nhật mới hạ thủy năm 2013 một chiếc có tên IZUMO Đây là loại chở trực thăng hay các loại dùng phi đạo thật ngắn như F-35C dùng tiêu diệt tàu ngầm và bảo vệ  hạm đội, đánh phá các mục tiêu gần. Họ dư dịnh hạ thủy hai chiếc. Mỗi chiếc có trọng lượng rẽ nước 19500 tấn, dài 248 m, vận tốc 59 km/h và chỏ 24 máy bay.

ASW- IZUMO

a-      AAS - Amphibious Assault Ships.

Tàu há Mồm- Landing craft.

Loại này mới xuất hiện sau này khi nhận thấy cần chở Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đổ bộ. Trong chiến tranh thứ II, quân đội và trang bị được đổ bộ bởi các tàu nhỏ gọi là tàu đổ bộ, hay Việt Nam ta gọi là tàu há mồm- landing craft. Nếu chúng ta xem phim The Longest Day trong thập niên 70 thì thấy vô số loại tàu này.

Cách này bây giờ hầu như ít được dùng bởi các nước tiên tiến vì chậm chạp nguy hiểm. Họ chỉ dùng nó để chuyên chở phụ thuộc. Các nước này, ngày nay đổ TQLC và cả đại bác vào bờ bằng trực thăng. Khi bãi biển đã an toàn thì các con tàu cũ landing craft mới được dùng tới. Nhiệm vụ khác của loại tàu này là tuần tra và hộ trợ các lực lượng trên bờ hay dưới nước với trực thăng. Vì vậy, nó còn được coi như là hộ tống hạm đội, bảo vệ HKMH khi chiếc này chuyên lo việc phóng các phi cơ lên không.

Vì nhu cầu này, các quốc gia ấy phải chế ra một loại tàu đặc biệt chở trực thăng thông thường cùng phi cơ lên thẳng như Sea Harrier (STOVL) và sau này sẽ chở F-35C, V22 Osprey.

Sea Harrier do British Aerospace Sea Harrier chế tạo cho Hải Quân 1978.

Sea Harrier

F-35 là một loại phi cơ phản lực dùng cho cả ba binh chủng Hải, Lục và Không Quân do hãng   Lockheed Martin Aeronautics chế tạo.
Đương nhiên là vì để tấn công cùng đổ bộ, nên loại này phải có chỗ chứa cho trên 1 tiểu đoàn TQLC.

Thông thường thì trực thăng bay chậm vì động cơ chỉ nghiêng về trước một góc nhỏ khi bay tới trước. Muốn bay nhanh hơn thì góc phải lớn hơn. Nên người ta nghĩ tới việc làm góc lớn cực đại và chiếc V-22 ra đời. V22 Osprey, là một loại phi cơ chuyên chở, cánh quạt do Bell & Boeing làm. Mục đích là để phi cơ lên thẳng như trực thăng và bay nhanh như máy bay thường. Muốn như vậy, các kỹ sư đã thiết kế lúc cất cánh, động cơ được quay lên trời. Khi đã an toàn trên không hai động cơ từ từ quay lại 90 độ để tạo sức manh cho phi cơ bay nhanh hơn.
Quả thật họ đã làm đúng hướng. Với các trực thăng vận tốc trung bình khoảng 250 km/h và V-22 có vận tốc trung bình là 446 km/h.

Nếu được chở thêm các phi cơ lên thẳng như trên thì nó còn làm nhiệm vụ tấn công các mục tiêu không quá xa nơi đậu lắm.

Dù rằng trong thế chiến thứ II, quân đội Mỹ đã nhận thấy khi đổ bộ ở các trận đánh lên Normandi và các đảo ở Thái Bình Dương, nhưng phải đợi đến sau thế chiến thì các loại tàu này mới được làm ra. Lúc đầu, các tàu này là do sự biến cải từ các HKMH nhẹ hay các tàu chiến lớn.

Nước đầu tiên áp dụng loại tàu này là Anh trong trận kênh Suez ở Ai Cập năm 1956. Hải quân Anh đã biến cải hai HKMH hạng nhẹ Ocean và Theseus (13000 tấn) để chuyên chở thủy quân lục chiến và trực thăng. Nhưng nước nghiên cứu kỹ và áp dụng nhiều nhất là Mỹ trong chiến cuộc Việt Nam. Họ đã biến đồi nhiều chiến hạm thành loại này, gồm 3 chiếc HKMH nhẹ lớp Essex, và chiếc USS Thetis bay, trước khi thật thụ thiết kế một chiếc đúng nghĩa ngay từ đầu. Đó là chiếc Iwo Jima.

Cái lợi trước mắt là kiểu này không cần phải làm thật to, ít tốn tiền, nhiều chỗ chứa phi cơ hơn. Không nói tới máy móc trang bị cho một HKMH, cái sân bay muốn được dùng bất kì lúc nào thì phải tu bổ thường xuyên. Tiền tu bổ tùy theo diện tích. Như vậy, sân bay càng lớn thì càng tốn tiền. Một bất lợi của nó này là hiện nay chỉ chở được trực thăng, nên không được coi như một HKMH, mà coi như loại tàu đổ bộ tấn công. Muốn thành loại tấn công thì phải đợi F-35C Lightning cuả Mỹ. Nhưng điều này không cần thiết như các bất lợi sau:

-          Máy bay lên thẳng không chở được nhiều vũ khí, nhiên liệu như máy bay tương đương, cất cánh có phi đạo. Vì việc này làm hoạt tầm phi cơ g ần hơn và ở thế hạ phong về vũ khí.

-          Sự cất cánh chậm hơn so với máy bay khác. Khi ở thế lâm chiến, vấn đề thời gian để phi cơ được đưa lên bầu trời cũng là một việc quan trọng. Lúc ấy, phi cơ mới thật sự ở vị thế tấn công.

HMS Ocean

USS Iwo Jima

Tuy nhiên, mục đích của loại này là chở TQLC cùng các phương tgiện đổ bộ thì nó đạt mục tiêu.




Monday, September 15, 2014

Những Ngày Không Mặt Trời - Bai 1



 

Kảihoảng 10 giời trưa một ngày của mùa mùa xuân 1955, tất cả nhóm chúng tôi khoảng 60 người được chia làm hai toán lên hai chiếc vận tải cơ quân sự C119 của không lực Hoa Kỳ (Loại phi cơ có hai thân. Thật ra hai thân mà chúng ta thấy là hai động cơ, còn thân chính giữa mới là chỗ chứa hàng hay để binh sĩ ngồi.). Cửa lên xuống được đặt phía sau đuôi than giữa. Bên trong thân máy báy có hai hàng ghế ngồi chạy hai bên, và có các cửa sổ hình tròn. Hai hàng ghế này chính là ghế cho lính nhảy dù ngồi. Cách thiết kề này rất tiện đê thả dồ vật nặng và dễ dàng cho lính nhảy ra khỏi phi cơ.
Đây là các nhóm người vào Nam cuối cùng nên số người quá ít không cần dùng tới tàu há mồm. Các toán người di cư đã chấm dứt vào cuối năm 1954.
Máy bay kia cất cánh trước nên tôi được dịp ngắm cảnh phi lăn bánh ra phi đạo, rồi lao vút vào không gian. Một lát sau, đến lượt chiếc phi cơ của chúng tôi di chuyển từ từ ra phi đạo. Phi cơ rồ máy lấy trớn, phóng nhanh trên phi đạo rồi một phút sau tôi thấy mình đã lơ lửng trên bầu trời xanh, với các đám mây trắng như các cục bông gòn khổng lồ bao quanh. Nhìn xuống dưới đất, phi trường Cát Bi của cảng Hải Phòng từ từ nhỏ dần, rồi mất hút sau các đám mây ấy. Nhiều khi các cục bông gòn trắng toát ở lơ lửng trứơc mặt, và nhiều lúc chúng tôi ở ngay giữa chúng. Cảnh vật nhìn đẹp vô cùng, làm tôi có cảm tưởng như đang đằng vân, giá võ theo chân Tôn Ngộ Không.
Bỗng nhiên chúng tôi cảm thấy rơi xuống thật nhanh làm ruột gan chạy lộn ngược lên ngực khiến mọi người hết hồn. Đàn bà con nít la khóc um sùm và tất cả đều nghĩ maý bay rơi. Độ mươi giây sau thì hiện tượng mất đi và chúng tôi cảm thấy dễ chịu trở lại. Sau đó, chúng tôi được biết máy bay đã bay vào một vùng nhiễu loạn không khí, nơi ấy không khí loãng hơn và áp suất không khí thấp hơn bình thừơng nên máy bay rơi xuống cho đến khi nó vào lại vùng không khí bình thường. Kể từ lúc ấy, lâu lâu chúng tôi lại bị một lần như vậy, nên hết còn dịp ngắm cái đẹp của thiên nhiên nữa, mà phải đối phó với cái sợ hãi lạ lùng ấy. Đàn bà con nít ói mửa khắp nơi. Cẩm Dung và Mẹ tôi cũng nằm trong số các người đó. Trường hợp này thường xẩy ra cho các máy bay cánh quạt, vì chúng không thể bay cao và nhanh đủ để vượt qua các khoảng trống ấy. Máy bay phản lực thi ít hơn nhiều.
Hoàng hôn buông xuống, máy bay từ từ đáp xuống phi đạo sân bay Tân Sơn Nhất, sau khoảng 8 giờ bay. Chúng tôi ra khỏi phi cơ thì mặt trời cũng vừa lặn, nhưng không khí vẫn còn nóng và ẩm ướt, khác hẳn với môi trường thiên nhiên ở miền bắc.
 
***
Vào đầu tháng tư 1955, gia đình tôi định cư tại Vũng Tầu, một thành phố nghỉ mát nhỏ, cách Sàigòn 50 cây số đường chim bay và ở hướng đông nam thành phố này. Tuy nhiên, theo quốc lộ khoảng cách hai thành phố là 124 km. Người Pháp gọi thành phố này là Cap St Jacque. Trong thời gian đó (1954-1955), Vũng Tầu là căn cứ cuối cùng của lính Pháp, trước khi họ bàn giao tất cả cho chính quyền miền Nam, do thủ tướng Ngô Đình Diệm cầm đầu. Vì lý do trên, cứ chiều chiều, tôi thấy ngoài đường lính Tây trắng, Tây đen đi nhan nhản như mắc cửi. Đến tối, họ vào các bar, quán rượu nhậu nhẹt, nhẩy đầm, ăn chơi đàng điếm. Đó là một điều mà tôi không ưa khi thấy bóng quân thù còn lảng vảng trên đất nước mình.
Tuy nhiên, khi họ rút đi, chúng tôi rất hài lòng định cư tại thành phố nhỏ nhen, thơ mộng này, với căn nhà nhỏ mang số 8 trên đường Nguyễn Thái Học (nay là Ba Cu). Thị Xã Vũng Tầu trong thời gian này nhà cửa thơ thớt. Nói chung thì chỉ loanh quanh nơi phố chợ với đường Trưng Trắc, Trưng Nhị là tấp nập nhất. Toàn thị xã thì khoảng một cây số đường kính mà thôi. Sau lưng nhà tôi là những đồng cát chạy dài đến ngã Năm và chi chít những bụi cây nhỏ, đó là ổ của trăn rắn, cùng các ao nước mưa mùa hè là tổ của cá rô, cá sặc. Chúng tôi thường ra cánh đồng cát này để bắt dế về đá hay ra ao câu cá.
Thị xã Vũng Tàu nằm giữa hai ngọn núi: núi Lớn và núi Nhỏ. Trên đỉnh núi Nhỏ có ngọn hải đăng dùng để hướng dẫn tầu bè ra vào Sàigòn qua ngả sông Lòng Tầu, còn núi Lớn thì hoàn toàn hoang dại. Trên cả hai ngọn núi, rải rác những cây lớn chen trong những rừng le  bạt ngàn. Le là một loài tre nhỏ bằng ngón chân cái, không gai, cao độ 5, 6 thước.
Trong lịch sử thì Vũng Tầu là một trong vài nơi đã nếm các phát đạn đại bác đầu tiên của Pháp, khi họ muốn xâm lược Việt Nam hồi giữa thế kỷ 19. Lúc ấy, Vũng Taù là phần đất của tỉnh Biên Hòa. Năm 1967 sau khi chiếm trọn Nam Kỳ, Pháp chia miền Nam thành 20 tỉnh. Ít lâu sau, họ thấy nơi đây có các bãi biển đẹp có thể làm nơi nghỉ mát cho các quan cai trị nên lập thành tỉnh thứ 21 gọi là Cap Saint Jacque. Vua Thành Thái đã từng bị thực dân Pháp quản chế ở dinh ông Thượng, nằm ở chân núi Lớn.
Phía đông của thị xã là Bãi Sau (Bây giờ có tên là Thùy Dương), một bãi tắm nổi tiếng ở miền Nam, với những bãi cát bằng phẳng dọc theo bờ biển, và những động cát trắng tinh, không nhà cửa. Vào cuối niên học, các học sinh trung học thường rủ nhau ra các động cát này hái trái trâm chín đen và ngọt lịm ăn, hoặc những ngày trước tết họ lại ra đó chặt cành mai về nhà để chào đón mùa xuân.
Ở phía tây, và sát ngay cạnh thị xã là một bãi tắm khác: Bãi Trước (Bãi Tầm Dương), tuy nhiên bãi tắm này không được sạch như Bãi Sau, nhưng nằm cạnh ngay thị xã và sóng không cao, nên có rất nhiều người tắm và nhiều quán xá. Tại Bãi Trước, ngay cạnh chân Núi Nhỏ là một bến ghe chài tấp nập.
Ta có thể tả Vũng Tầu ở thời điểm này qua bài:
 Vũng Tầu 1955
 
VŨNG TẦU MỘT LUYẾN TIẾC
           Ai ơi nghỉ mát Vũng Tầu.
Để lòng thanh thản, để sầu tiêu tan.
      Ra Bãi Sau, sóng tràn mặt nước.
      Cát trắng tinh, trâm mướt màu xanh.
           Trời trong, mây trắng vây quanh.
Ngoài khơi thuyền cá đang tranh đường về.
      Còn Bãi Trước ê hề quán xá.
      Nhạc véo von, cầu đá nhấp nhô.
            Hàng dương đang dệt vần thơ.
Núi non háo hức đón chờ khách lai.
     Đường Quang Trung chạy dài Bãi Trước.
     Chiều cuối tuần khách bước theo nhau.
            Dập dìu kẻ trước người sau.
Ngắm nhìn trời nước nhuộm màu hoàng hôn.
     Ghé Xóm Lưới một thôn bên chợ.
     Nơi dân chài cùng thợ đóng ghe.
          Xóm Vườn rợp bóng hàng me.
Nhãn xum xuê chín, bên hè mận xanh.
    Ở Ngã Năm vắng tanh nhà cửa.
     Hai bên đường vài thửa rừng hoang.
          Xóm Mới nổi tiếng điều vàng.
Nhà xây trên cát, quán hàng lẻ loi.
     Sông Bến Đình bóng soi cầu sắt.
     Cá lững lờ trong vắt sông sâu.
        Chợ ngay bên cạnh đầu cầu.
Ngã Tư Giếng Nước ngõ hầu đi xa.
     Đỉnh Núi Nhỏ đèn pha trắng toát.
    Với nhiều đêm gió mát trăng thanh.
         Đông nam biển biếc vây quanh.
Tây bắc lác đác mái tranh xóm nghèo.
 
      Đường Hạ Long ngoằn ngoèo ven biển.
      Để tình nhân tiêu khiển nhàn du.
         Chùa chiền những bậc chân tu.
Chênh vênh vách núi bao thu vẫn còn.
   
      Đến Bãi Dứa đường mòn thay đổi.
      Dốc chênh chênh, gió thổi Nghinh Phong.
          Hòn Bà nổi giữa nước trong.
Eo Quắn sóng vỗ khiến lòng sầu bi.
    Đến Chí Linh đường đi hơi khó.
    Nơi đây thì chỉ có rừng thông.
         Ngắm nhìn trời nước mênh mông.    
Gió đưa cát trắng, ai không biết sầu.
   
      Quay ngược lại Hòn Châu đơn lẻ.
      Gió đưa vào mát mẻ thân ta.
         Bãi Dâu vốn cũng chẳng xa.
Lá xanh, cát trắng lại pha cây rừng.
   
      Chân Núi Lớn xin đừng đi vội.
      Ghé Sao Mai có đội thuyền câu.
         Bình minh người đã bắt đầu.
Cho chuyền vượt sóng nhuộm mầu trùng dương.
      Bạn cứ tiếp thẳng đường Bến Đá.
     Nơi thuyền bè đánh cá nghỉ ngơi.
         Dân tình những lúc thảnh thơi.
Cùng nhau đi lễ ở nơi Phật Đài.
    
Ở Rạch Dừa đường hai bên phố.
     Vài giáo đường thách đố thời gian.
         Cỏ May bần mọc bạt ngàn.
Một mầu xanh mướt tràn lan chân trời.
 
     Theo năm dài dòng đời thay đổi.
     Vũng Tàu ơi gió thổi mây bay.
        Dễ gì mà chẳng đổi thay?
Liệu còn thơ mộng như ngày xưa không?
VHKT