Saturday, April 11, 2015

Đại Việt Thắng Nguyên Mông- Bài 90


CHƯƠNG CUỐI- TRANH LUẬN (TT)

Tối hôm trước, đạo kị binh binh Mông Cổ biết tin quân ta xuất hiện, nhưng chúng không xuất quân vì muốn ta tới tấn công chúng để chúng có lợi địa. Nếu binh Mông Cổ tấn công nơi ta đóng quân thì ta lại có địa lợi và họ chưa nắm vững tình thế.  Hơn nữa trời tối cũng chẳng mấy tốt cho kị binh của họ. Dù sao đi nữa, quân binh Mông Cổ phải luôn luôn ở trong tình trạng ứng chiến.[1]

 Quân ta quăng các bàn chông ra, lớp trong, lớp ngoài, theo ý Quân Sư Vũ, rồi nối hai tâm của hai cái bàn chông thành một cặp, cách nhau khoảng hơn sải tay. Trong khi ấy, đội vác luồng đào lỗ to khoảng hơn một gang tay sâu độ 5, 6 gang nằm nghiêng khoảng 45 độ đối với mặt đất. Khi đào xong, họ chôn gốc cây luồng xuống đất, mà mặt bị vát hướng vào trại lính Mông và lèn thật chặt. Đội này lại đóng cọc nhọn ngay bên dưới chỏ6 bị vát, rồi lấy sợi chão ngắn nối ngọn cây luồng với cọc bên dưới. Chiều dài dây ngắn này phải vừa đủ căng. Bên trên gốc gây, tiểu đội lính này được lệnh kiêng tảng đá lớn để lên trên.

Khi công việc này xong, Tướng Nguyễn cho đạo quân dùng nỏ, ra phía tước hàng chông, tấn công đối phương; những ngừơi có sức khỏe, nỏ mạnh dùng tên lửa bắn vào lều giặc. Đa số tên này rơi bên ngoài trại giặc.

Đội phụ trách luồng lấy làm công việc sau: một người lấy vải rách cuộn ngoài các cục đá to như trái cam lớn trộn chất dẫn hỏa. Sáu ngừơi còn lại kéo dây chão dài làm cây luồng uốn cong xuống. Người cầm đá cuộn vải cho vào phần vạt ở ngọn rồi đốt lửa. Sáu ngừơi kia buông dây; cây luồng bật đi, và khi cây bật đi và vừa đúng dộ căng dây ngắn thì dừng lại để cho cục đá lửa bay về trại giặc. Vì luồng không quá non để tránh thân bị oằn và khong quá già để không bị gãy. Loại súng này có khả năng bắn xa hơn cung nỏ nhiều, nhưng không chính xác. Tuy nhiên nó cũng đủ vào sâu trại giặc làm một vài lều trúng lửa bốc cháy. Vì đây là súng dã chiến nên chỉ dùng vài ngày là vứt đi.

Ngược lại lính Nguyên cũng bắn trả lung tung, nhưng tên chúng chẳng đến ta. Một điểm khó cho chúng là đội quân này toàn là kị binh có mục đích ứng chiến mau lẹ nên không có súng bắn đá catapult.

Cùng lúc ấy, đội mang thương lấy các dây còn lại nối hai bụi cây rừng với cao từ vế đến bụng. Nếu chỉ một cây cao quá bụng thì thân cây chỉ to bằng ngón tay cái, nhưng ta không phải nối một cây với một cây mà nối một bụi với một bụi gồm cả tá cây với nhau. Cách nối cây đã được dạy là xoắn các cây làm chúng bị dập đi, rồi kết với nhau. Khi cây bị dập thì chúng trở nên rất dai. Đó là cách của người đi rừng, mà Quân Sư Vũ đã có kinh nghiệm. Bây giờ, ta lại có thêm 5000 sợi gây thừng chắc chắn giăng như mắc cửi, xen lẫn với các bàn chông. Sau đó, đội mang trường thương được nghỉ ngơi.

Hơn một canh giờ sau, lại thay phiên. Đội mang thương ra dùng nỏ, đội dùng nỏ vào cầm thương nghỉ ngơi. Vì trời còn tối nên giặc không dám xông ra vì sợ phục binh, nhưng không đựơc nghỉ ngơi thoải mái, vì chỉ sợ bị tràn ngập. Với chiến pháp này binh lính ta được ngủ ngáy, nghỉ ngơi, trong lúc địch tất cả ở trong tình trạng ứng chiến liên tiếp, phải lo chữa cháy nhiều nơi, nên bị mệt mỏi về cả thể xác lẫn tinh thần hơn.

Đến gần sáng Tướng Nguyễn Chế Nghĩa cho đội kị binh ra tấn công.

Một lúc sau, mặt trời nhô lên cao, tướng giặc bây giờ thấy rõ tình hình. Từ hướng chúng nhìn tới chỉ thấy lính bộ của ta và lèo tèo ít kị binh, và chẳng thấy đồn lũy gì. Không những thế chúng thấy người Đại Việt nhỏ, ngựa Đại Việt bé hơn ngựa họ, đâm ra kinh thường[2]. Tướng Nguyên thấy nếu không phá được đạo quân ta, chúng sẽ rắc rối khi có lệnh đánh bọc hậu của Thoát Hoan. Một điều làm tướng Nguyên Mông e dè là sợ có phục binh đàng sau đạo quân mà chúng thấy. Hắn cho thám mã ra cửa sau đi điều tra. Sau suốt ngày, thám mã trở về báo tin không thấy gì khả nghi. Tướng Nguyên chuẩn bị cho xuất quân và một trong các mục tiêu chính là phá hủy súng bắn đá của ta. Nhưng khổ nỗi súng này đặt trong trận thế, nên muốn phá chúng phải vào cặm bẫy ta. Hắn nghĩ quân kị binh của hắn sẽ tiêu diệt đạo quân ta, một cách dễ dàng với chiến thuật volley ball. Nhưng hắn quên một điều đã hơn một ngày một đêm binh sĩ hắn không được nghỉ ngơi bao nhiêu. Trái lại quân ta đã ăn uống nghỉ ngơi. Thật ra quân ta đến đánh quân Mông, nhưng ngược lại bây giờ ta tạo ra thế quân Mông đến đánh ta. Ấy là một điều trong binh pháp Tôn Tử đã viết trước đây, nay xin nhắc lại:“Phàm kẻ đến chiến trường trước để đợi địch thì nhàn nhã, đến chiến trường sau mà vội vã lao vào chiến đấu thì vất vả. Cho nên, người thiện chiến là người biết làm cho cho địch phải đến đánh mình chứ không đến đánh kẻ địch”.

Sáng hôm sau nữa, quân Mông Cổ chia làm ba, một phần lớn ra trực diện, còn hai phần ít đi vòng cửa sau tấn công hai phía hông của ta theo thế gọng kìm. Cộng thêm vào đó, mặt chính diện tấn công từ phía trước tới, chúng áp dụng chiến thuật tam diện giáp công. Ngay sau lưng ta là một cánh ruộng sâu. Tướng Nguyên Mông biết rõ điều ấy và cho là thượng sách. Theo chiến thuật của Mông Cổ đánh dồn ba phía chừa một lối thoát là tử địa như họ đã từng tiêu diệt quân Hung.

Được xắp xếp trước, hai toán binh hai đầu khi thấy bóng địch từ xa đã di chuyển bàn chông. Rút cục địch vẫn bị chướng ngại vật và kị binh không thể tiến nhanh như bình thường. Đó là một điểm bất lợi cho Mông Cổ, vì đạo quân này chỉ hữu hiệu khi có thể di chuyển nhanh để người kị mã tấn công đối phương mà không cần điều khiển ngựa. Như quý độc giả dã từng nghe nhiều, đọc nhiều về chiến thuật chớp nhoáng của Mông Cổ, họ chỉ có thể thắng địch quân khi di chuyển nhanh như gió. Nhưng trong hoàn cảnh này họ không thể thi thố chiến pháp ấy. Dù chúng có đánh bọc hậu cũng bị khó khăn, vì bàn chông di động và các mạng nhện khổng lồ, nếu giặc ở phía này thì ta sang phía khác.

Lúc đội thứ nhất của Mông Cổ tràn ra, 100 kị binh của ta tháo chạy vào trận địa, binh ta dẹp lối cho vào, rồi lấp lại. Trong khi đó đợi toán địch vào thì ta bít phía sau. Rồi tất cả cùng tấn công. Một toán khác của Mông Cổ thấy vậy phải rút lui, người dùng thương lăn bàn chông đi tới, để người dùng nỏ tiếp tục tấn công, với mục đích là chia cắt Mông Cổ làm thành từng toán nhỏ.

Khi một con ngựa thấy khoảng trống nó sẽ phóng vào giữa, nhưng sợi dây nối giữa hai cái cầu gai sẽ bị lôi theo, làm hai bàn chông nhập lại phía bụng hay đâm vào sau con ngựa. Thật ra cái bàn chông không nặng, nhưng vì các mũi nhọn cắm vào đất, nên tạo ra một lực cản đáng kể, càng kéo thì các mũi càng cắm sâu hơn. Đến khi lực kéo của ngựa mạnh hơn sức cản thì bàn chông bị bật lên và phóng về phía lực kéo. Tất cả mũi chông sẽ đâm vào lưng người và ngựa. Ngựa phóng càng nhanh thì sức đâm càng mạnh; đây là thế: “gậy ông đập lưng ông”. Một điểm hay nữa là sau khi đâm bị thương địch quân, bàn công rơi xuống đất lại sẵn sàng làm nhiệm vụ của nó chứ không cần ai sắp xếp.

Trong khi đó toán Mông Cổ thứ hai và thứ ba tấn công vào hông ta cũng gặp khó khăn. Chúng ta lui vào phía sau các bàn chông thủ và tiếp tục bắn tới. Một số kị binh Mông Cổ xông vào nên rơi vào trận thế và vướng cạm bẫy ta. Ngựa không tiến nhanh được là vì bị chông đâm hay dây chặn. Với cách thiết kế này, bàn chông đâm ngay vào ngực, đùi và bụng ngựa. Còn người kị mã cũng phải lo việc tránh các mũi chông nhọn hoắt sẵn sàng đâm vào chân họ. Nếu ngựa nhảy dựng hai vó trước, khi hạ xuống chúng có thể bị đâm thủng bụng bởi các bàn chông.

Nhiều con ngựa khác đang phi nước đại, thấy dây căng ngang nên phóng qua, nhưng chân trước mới chạm đất thì đâm ngay vào bàn chông. Phản ứng con ngựa là trì hai chân trứơc xuống để hãm tốc độ. Còn người kị mã vô phúc lúc ấy đang dùng cả hai tay dương cung, không phản ứng kịp và với động năng sẵn có, nên theo đà lao vào cái bàn chông quái dị kia. Người hắn kể như là được đóng đến một 6, 7 mũi tên, nếu may mắn không bị cọc lớn đâm thủng bụng. Có nhiều khi cả người lẫn ngựa cùng đâm vào bàn chông.

Ngay lúc đó, nhiều người kị mã khác chỉ lo điều khiển ngựa, làm gì có thì giờ để tấn công đối phương. Chúng trở thành bia cho quân ta tập bắn. Một toán Mông Cổ đã sa vào bẫy, bị bao vây bởi các bàn chông, và lưới thì toán kị binh ta tới tiêu diệt chúng. Khi thấy chỗ nào quân Mông Cổ hơi thưa ra, lính ta lập tức lăn các trái cầu gai đó tới phía trứơc và có lúc chúng ta đã bao vây được hay chia cắt toán lính kị binh kia thành nhiều nhóm nhỏ.

Chắc đến lúc này lính Tướng Mông Cổ phải sửa Chinh Phụ Ngâm:

“Non Kỳ mộ chỉ trăng treo.                       (Kỳ Cấp)

Bến Cùng gió thổi đìu hiu mấy gò.            (Kỳ Cùng)

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi.

Mặt “Nguyên Mông” trăng dõi dõi soi.

“Nguyên Mông” tử sĩ mấy người?”

Có lẽ rất nhiều vị đồng ý với tôi trận đánh này mình sẽ thắng.




[1] Chuyện này thực sự cũng đã xẩy ra, khi quân Mông bị tấn công ban đêm thường chịu tổn thất mà không đám phản công mạnh. Quận công Kálmán và tổng giám mục Ugrin Csák đánh quân Mông trên cầu sông Sajó lúc nửa đêm, như chúng tôi  đã thuật ở chương 04.
[2] Đây cũng là phần trả lời bạn đọc NguoiConVienXu hỏi chúng tôi trên diễn đàn ngày February 04, 2009 04:54PM và nguyên văn như sau: “Thưa bác VHKT,
 Tôi thấy một chi tiết nhỏ này ma` không thấy ai nói tới:
Người lính Việt Nam , cũng như các chiến mã của ta thể lực rất nhỏ, yếu so với quân ngoại bang va` ngua chiến của họ, trong các cuộc chiến tranh bằng gươm giáo, cung tên....
Như thế thì yếu tố nao` đã tạo nên cac' chiến thắng của Dân Tộc?
Phải chăng, cac' Tướng Súy của ta thời ấy đã lấy mưu trí để chế ngự các khiếm khuyết kể trên. Vài lời thô thiển mong bác cho lời nghị luận.
Kính bác.”
 

Thursday, April 9, 2015

Đường Thi: Lưu Vũ Tích- Ẩm tửu khán mẫu đơn


Lưu Vũ Tích tự là Mộng Đắc người Bành Thành, Giang Tô.  (một thuyết khác nói ông quê ở Quảng Đông). Ông đậu tiến sĩ và bác học hoằng tử. Tính tình rất cương trực. Khi làm quan, ông làm thơ chỉ trích các đại thần nên bị biếm làm tư mã Lang Châu. Sau bạn ông làm tể tướng nên được về kinh. Ông lại làm thơ chỉ trích triều đình nên lại bị biếm đi Tô Châu rồi Nhữ Châu. Lúc làm việc tại Tô Châu, ông được quan tư không Lý Thân mời dự tiệc. Trong tiệc ông gặp một danh kỹ tên Đỗ Vi Nương.  Ông làm thơ tặng nàng, nên Lý Thân đem tặng ông nàng danh kỹ ấy.


飲酒看牡丹          

Ẩm tửu khán mẫu đơn


 

 今 日 花 前 飲                       

Kim[1] nhật hoa tiền ẩm.           

甘 心  醉 數 杯                       

Cam[2] tâm túy sổ[3] bôi.

但 愁 花 有 語                        

Đãn[4] sầu hoa hữu ngữ.

不 為 老 人 開                        

Bất vị lão nhân khai.

劉 禹 錫 Lưu Vũ Tích (772-842)

 

 

Hôm nay, uống rượu trước hoa.

Đành cạn vài chén cho qua cuộc đời.

Chỉ buồn hoa lại buông lời.

“Hoa này không nở cho người già đâu.”

                               VKT 2005

Trước hoa ta uống rượu.

Cạn mấy chén qua loa.

Chỉ khổ hoa cười nói.

“ Nở không vì lão già.”

                                    VKT 2005



[1] Kim: Hôm nay.
[2] Cam: 1. Ngọt. 2. Cam đành.
[3] Sổ: Một vài. Kể ra. Nêu ra. Số lượng.
[4] Đãn: không những. không chỉ có.

Tuesday, April 7, 2015

Thơ Đường: Vương Chi Hoán- Đăng Quán Tước Lâu


Vương Chi Hoán sinh sống khoàng tiền bán thế kỷ thứ 8, người Tinh Châu (Thái Nguyên- Sơn Tây TQ). Thủa thiếu thời rất hoạt động: múa gươm, đánh kiếm,săn bắn, ca hát, uống rượu. Lúc trung niên giỏi văn chương, nhưng lân đận trong khoa cử., thường cùng Vương Xương Linh, Cao Thích, Thôi Quốc Thụ xướng ngâm.

Một giai thoại văn chương về ông được kể như sau: Một hôm, ông cùng Vương Xương Linh, Cao thích đến uống rượu ở đình kỳ, nơi có các linh quan- quan coi về nhạc công- cùng các kỹ nữ nổi tiếng. Ba ông ước với nhau rằng: “Chúng ta là những người nổi danh về văn chương, song chưa biết ai hơn ai kém. Để xem các nhạc quan cho hát thơ ai thì biết liền.”  Một lúc sau, linh quan cho ngâm 2 bài của Vương Xương Linh, một bài của Cao Thích. Vương Chi Hoán thấy vậy bèn nói: “Bài ca sắp hát đây nếu không phải của ta thì suốt đời ta không tranh giành với các huynh nữa”. Quả nhiên một lúc sau một ca kỹ ra hát hai bài của Vương Chi Hoán.

登 鸛 雀 樓           

Đăng[1] Quán Tước Lâu[2]


 白 日 依 山 盡              

Bạch nhật y[3] sơn tận.

黃 河 入 海 流              

Hoàng Hà nhập hải lưu.

欲 窮 千 里 目              

Dục[4] cùng[5] thiên lý mục.

 更 上 一 層 樓              

Cánh thướng nhất tằng[6] lâu[7].

                   王之渙

                   Vương Chi Hoán

Bài thơ ngũ ngôn, câu đầu là vần trắc câu kế vần bằng. rồi một trắc một bằng và chia hai cặp đối nhau.

 

Mặt trời trắng ở các ngọn núi nơi chân trời.

Hoàng Hà đổ nước vào biển khơi.

Muốn xem ngàn dặm xa xôi.

Hãy lên một tầng lầu.

 

Lên Quán Tước Lâu

 

Bạch nhật gác non thắm.       

Hoàng Hà nhập biển sâu.

Muốn nhìn vạn dặm cảnh.

Hãy đến một tầng lầu.

                        VHKT 1987.

 

Ác vàng gác núi ở chân trời.

Sóng nước Hoàng Hà đổ biển khơi.

Muốn ngắm đất trời xa vạn dặm.

Chỉ cần lên đến một lầu thôi.

       VHKT 1987.



[1] Đăng: leo lên.
[2] Xem lối thơ có vần trắc trong bài thơ “Tống Xuân Từ của Vương Duy trang 29.
[3] Y: giống hệt.
[4] Dục: ham, muốn.
[5] Cùng: hết, cuối.
[6] Tằng: từng, lớp.
[7] Lâu: lầu.

Saturday, April 4, 2015

Những Ngày Không Mặt Trời- Bài 27


Sau một thời gian dài ở Sàigòn, tôi về Vũng Tầu thăm bố và hai em trong dịp tết Nguyên Đán. Trong thâm tâm tôi mong rằng có dịp gặp lại An sau một thời gian xa cách. Chiều hôm đó, tôi ghé lại thăm Thanh trước khi đến nhà An. Thanh đã trở thành người bạn thân nhất của cả hai đứa tôi, nên cô ta biết nhiều chuyện.

Thanh rất mừng khi gặp tôi, chúng tôi trao đổi vài lời hỏi thăm và nói chuyện vu vơ trong một đôi phút.

Bỗng Thanh nói:

 - Hiệp, tôi có chuyện này muốn nói cho Hiệp nghe. Hiệp có muốn nghe không?

Nhìn vào mắt Thanh, tôi thấy có một vẻ gì lạ lùng lắm, nên hồ nghi có chuyện chẳng mấy tốt.

Tôi lưỡng lự:

- Có chuyện...gì vậy?

Thanh cười gượng:

- Tôi nói chuyện này, Hiệp đừng xỉu nghe.

Tính hiếu kỳ đột nhiên vùng lên trong óc tôi.

Tôi hỏi:

- Nói thì nói cha nó cho rồi! Cứ úp úp mở mở hoài Thanh.

Thanh ngừng cười:

- An sắp lấy chồng!.

Lời nói của Thanh tuy nhỏ, nhưng tôi cảm thấy như đó là một tiếng sét nổ ngang tai, cổ thì như có cái gì mắc ở đó kiến tôi nuốt nước miếng không được. Tôi muốn khóc, nhưng cố sức đè nén nỗi khổ tâm để những giọt nước mắt không trào ra. Tôi đã thành công về việc này: Thanh đã không thấy những giọt nước mắt trên mắt tôi, nhưng cô ấy đã không thấy những giọt nước mắt trong tim tôi.

Một lúc lâu sau, tôi lấy bình tĩnh hỏi:

- Lúc nào An sẽ lấy chồng? Mà ai vậy? Có phải một giáo sư không?

- Thật ra có người nào đó, không phải giáo sư, ngỏ ý muốn cưới An lâu rồi, nhưng An nói đợi An một thời gian nữa sẽ trả lời.

- Thanh làm sao biết được tin đó?

- An nói hồi tuần trước. Người ấy hỏi An nhiều lần rồi, nhưng An đều nói để nghĩ lại, lần cuối cách đây hơn một tháng. Hình như An muốn chờ đợi...một cái gì đó.

Tôi nghĩ cái lá thư cuối về đôi guốc mà tôi nhận được, cách đây hơn một tháng, vậy chuyện cầu hôn của một người nào đó đã xẩy ra trước khi nàng viết thư cho tôi. Còn chuyện buồn mà nàng đề cập tới có phải là chuyện lấy chồng hay không?

Tôi nói:

- Thôi tôi về Thanh ạ.

Tôi quay gót đi, trong lòng tê tái.

Tiếng Thanh vọng lại từ phía sau:

- Hiệp nên ghé lại An một chút. An hình như muốn nói chuyện gì với Hiệp thì phải?

Tôi quay về nhà thay vì đến nhà An. Lấy một cái ghế ra bên hông nhà, tôi ngồi yên lặng, suy tư trong bóng đêm. Tôi tự hỏi: "Không hiểu Thanh có biết gì về tình yêu của mình với An hay không? Tại sao câu nói của Thanh lại ngập ngừng? Tại sao Thanh nói mình đừng xỉu? Vậy Thanh biết tình yêu của mình và An? Tại sao Thanh lại khuyên mình gặp An trước khi nàng lấy chồng? Mình có nên đến thăm An như lời thư nàng viết và theo lời khuyên của Thanh không? Người đến hỏi An chắc chắn phải là người đã có một sự nghiệp, còn mình vẫn trắng tay. Yêu An thì mình yêu thật, nhưng cưới An, ngay lúc này, thì lại là một việc khác. Muốn cưới nàng, mình phải tốt nghiệp đại học đã, nhưng đó là chuyện của gần 10 năm sau. Trong khoảng thời gian dài đó biết bao nhiêu chuyện có thể xẩy ra? Mình có thể nhập ngũ, bị tai nạn...và kết cục đời nàng về đâu, nếu mình hứa sẽ cưới nàng và nàng chấp nhận lời cầu hôn của mình. Nhưng tôn giáo cũng là một trở ngại. Nếu gia đình An bắt mình theo đạo, bố mẹ mình sẽ không chịu. Còn riêng mình chắc cũng không thích việc này vì cảm thấy bị áp chế."

Đêm đó, tôi vào giường sớm hơn, nhưng chỉ tiếp tục suy nghĩ tôi phải làm gì cho đúng. Cuối cùng tôi quyết định không đến thăm An, để nàng đi lấy chồng và thầm cầu mong rằng nàng chưa bao giờ yêu tôi. Tôi chợt ứa nước mắt, khi nghĩ nếu nàng yêu tôi, và đem tình yêu ấy theo khi lấy chồng. Tôi liên tưởng tới bài thơ "Hai sắc hoa Ti-gôn" của TTKH:

 

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

Ái ân lạt lẽo của chồng tôi.

Rồi từng thu chết từng thu chết.

Vẫn dấu trong tim bóng một người.

....

Nếu biết rằng em đã có chồng.

Trời ơi! Người ấy có buồn không?

Có thường nghĩ tới loài hoa vỡ?

Tựa trái tim pha tựa máu hồng.

 

(Bài dịch tiếng Anh:

 

I’m still walking until the end of my life,

With my husband’s love, which is cold as ice.

Then one death autumn and one death autumn passed by.

I still hide my lover’s image in the heart of mine.

...

If he knew, someone already married me,

Oh my god! Does he feel melancholy?

Does he think of a broken heart shape flower?

It looks like a red heart, which is bloody.)

Đại Việt Thắng Nguyên Mông- Bài 89


CHƯƠNG CUỐI- TRANH LUẬN (TT)


Trên diễn đàn Viện Việt Học, một ngừoi dặt câu hoi cho bạn Hồ lợi Đăng:
Một  đội binh 20000 quân ta tấn công một trại 5000 kị binh Mông Cổ. Liệu thắng không?

Chúng tôi viết bài này để trả lời các bạn nào thắc mắc khi quân ta tấn công Mông Cổ làm sao chiến thắng. Và xin nhớ dù đây chỉ là câu chuyện giả tưởng, nhưng giả tưởng và lý thuyết của một chiến thuật trong một trận đánh đều dựa vào sự hợp lý. Trứơc khi một trận đánh thực sự xảy ra thì chiến thuật cũng chỉ là lý thuyết thôi.

Dưới đây lại một câu chuyện giả tưởng ấy:

Giữa mùa xuân năm Mậu Tý (1288), lúc cây cối đua nhau đâm chồi, nẩy lộc, hoa nở khắp nơi, ong bướm dập dìu, thời tiết mát mẻ, đất đai khô ráo. Thiên nhiên, cảnh sắc thì thật đẹp, nhưng đất nước Đại Việt đang chìm trong máu lửa. Đây là lần tứ ba mà quân Mông Cổ sang xâm chiếm nước ta.

Lúc mới sang, quyên Nguyên chiếm nhiều thắng lợi, nhưng rồi sức kháng cự càng ngày càng gia tăng. Quân tướng Mông Cổ bắt đầu chán nản vì thuyền lương của Trương văn Hổ có tin đã bị Tướng Trần Khánh Dư phá hủy, mà thời tiết nóng nực, đã thế mà hết trại này sang trại khác bị quân ta quấy phá làm lực lượng Mông Cổ thiệt hại. Thoát Hoan cùng các tướng bàn chuyện rút lui.

Thoát Hoan biết muốn rút lui thì chia hai ngả thủy bộ. Đạo thủy binh sẽ vượt sông Cả (Hồng Hà), sang sông Đuống. Tại đây, chia làm hai nhánh vào sông Kinh Môn hay sông Kinh Thầy, nhưng sẽ hội ở sông Đá Bạc mà vào Bạch Đằng để ra vịnh Hạ Long. Đạo bộ binh sẽ theo đường mòn qua Kinh Bắc, đến Phủ Thiên Đức (Bắc Giang), vựơt ải Nội Bàng-Lục Châu (Lạng Sơn) để về châu Tư Minh.

Về phương diện thủy đạo Hưng Đạo Vương thấy phải áp dụng lại chiến thuật của Ngô Quyền ở Sông Bạch Đằng.

Về mặt đường bộ, Hương Đạo Vương nghiên cứu địa hình thấy rằng: con sông Thương chảy theo hướng đông bắc, tây nam từ Lộc Châu qua Chi Lăng xuống tỉnh Phủ Thiên Đức (Bắc Giang) thì đổi hướng chẩy về phía tây rồi sang đông nam. Trên đoạn từ bắc sông Hồng đến nam của Lục Châu (tên cũ của Lạng Sơn) phần nhiều là ruộng khô trong mùa này, nên khó lòng chiếm lợi thế đối với kị binh giặc. Nhưng khi gần đến Lục Châu thì núi càng ngày càng nhiều. Vùng Chi Lăng trở lên toàn những núi nhỏ len lỏi giữa các nói là các cánh đồng hẹp. Đây là điểm rất thích hợp để phục kích. Hưng Đạo Vương thấy đựơc ý định của giặc sẽ theo hai bên bờ sông này lên Lục Châu rồi về Trung Quốc, nên ngài quyết định như sau.

Ngài đích thân chỉ huy chặn đường thủy, còn để chặn đường rút trên bộ Ngài đã sai hai tướng Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Chế Nghĩa đem ba vạn quân và 200 kị binh lên phục kích binh Mông Cổ ở ải Nội Bàng và ải Lộc Châu thuộc Lạng Sơn. Mục đích của Hưng Đạo Vương là dùng đạo quân này chặn đường rút lui đạo quân trên bộ của Thoát Hoan.

Ở Lục Châu có rất nhiều rừng núi, tuy nhiên núi không cao lắm. Ở phía đông, gần biên giới, có ngọn Mẫu Sơn là cao nhất (1,540 m), quanh co trên vùng đất này ngoài con sông Thương còn có hai con sông khá lớn là Kỳ Cùng, Bắc Giang và vài sông nhỏ uốn khúc. Các sông này khác với sông Thương ở chỗ chúng thường cản trở sự rút quân hơn là giúp thuận lợi cho binh Mông Cổ. Trừ các vùng núi cao rừng rậm, phần còn của tỉnh là các cao nguyên, đồng bằng khô ráo trong mùa đông và mùa xuân rất tiện lợi cho kị binh Mông Cổ.

Hai tướng Phạm, Nguyễn cất quân di chuyển theo lệnh.

Tuy nhiên Thoát Hoan cũng chẳng vừa, y cũng nghĩ tới việc có phục binh trên đường rút về. Muốn bảo toàn cho việc rút binh trên bộ, Thoát Hoan cho một đạo 5000 kị binh đến gần biên giới đóng. Đạo này có nhiệm vụ đánh bọc hậu toán binh nào của nhà Trần phục khích quân binh Mông Cổ trên đường rút lui.

Đóng ở đây được một thời gian, thì một hôm thám mã báo tin cho hai tướng Phạm, Nguyễn tin về đạo kị bịnh Mông Cổ ấy. Đạo binh này đóng trên một vùng đồi, đồng ruộng khô khan thuộc núi Kỳ Cấp- Lục Châu (Lam Giang hay Lạng Sơn), một vùng tuyệt đối tốt cho kị binh. Khi biết tin đó, tướng Phạm Ngũ Lão muốn tấn công, tiêu diệt đạo quân này, vì không diệt được chúng thì đó là một thảm họa khi binh Mông Cổ rút về. Chúng có thể dùng thế gọng kìm làm kế hoạch chặn đường rút quân của Thoát Hoan bị hư hại. Tuy nhiên, cả hai tướng chưa biết làm sao để có thể chế ngự được đạo binh thiện chiến trên mình ngựa ấy, và lính ta mất lợi thế. Mặt khác làm sao ta có thể vừa chặn được Thoát Hoan, vừa có thể đánh tan đạo quân ấy nếu quân Mông Cổ rút về gấp rút trong mươi ngày hay nửa tháng sắp tới.

Hai tướng bèn bí mật triệu tập cuộc họp để bàn kế hoạch. Một quan cấp nhỏ họ Vũ đề nghị một biện pháp. Họ Vũ vốn quê ở Hải Dương, người thông minh, nhưng mới đầu quân nên chỉ là một quan nhỏ trong hàng quân. Sau khi nghe họ Vũ trình bày chiến thuật, hai tướng Phạm, Nguyễn bàn nhau kế hoạch tấn công và phong họ Vũ làm quân sư cho tướng Nguyễn Chế Nghĩa. Hai tướng cho tuyển lựa một vạn binh giỏi về thương và nỏ trong số ba vạn quân dưới quyền. tướng Phạm giữ hai vạn quân ở lại Nội Bằng, đề phòng sự rút lui bất ngờ của Thoát Hoan, còn tướng Nguyễn Chế Nghĩa và Vũ quân sư dẫn một vạn quân vừa được tuyển cùng 200 kị binh lên vùng núi Kỳ Cấp. Ngày hôm sau, hai người lập tức chuẩn bị, rồi ngày sau nữa họ cho binh lính bí mật hành quân trong rừng núi đến gần trại giặc.

Khi cách xa địch độ vài canh giờ, Tướng Nguyễn cùng Quân Sư Vũ cho lính vào rừng hay cùng bất đắc dĩ vào các buôn, bản của dân thiểu số lân cận chặt tre, luồng hay nứa cùng lấy dây thừng hoặc dây rừng cho khiêng về (Luồng là một loài tre rất lớn không gai, giống như tre Mạnh Tông ở miền Nam, còn nứa cũng là tre không gai, nhỏ, mỏnh mà lóng rất dài.) Tre, nứa thì mọc nhan nhản khắp nơi trong rừng cũng như các làng mạc ở miền bắc và trung. Nếu cần thì cho chặt cây to bằng ngón chân cái cho đến bằng tay cổ cũng được. Địa phận này lợi cho bộ binh mà bất lợi cho kị binh, nên ta không sợ giặc đánh bất ngờ, vì chúng biết câu: dị lâm mạc nhập.

Tại đây các sắc dân thiểu thấy binh ta tới, nên đổ xô ra giúp. Họ biết binh ta sắp đánh binh Mông Cổ nên rất hồ hởi giúp quân Trần trong việc chặt tre, cây và lấy dây rừng. Nhờ vậy mà công việc thu ngắn thời gian rất nhiều, mà đã thế còn được thêm nhiều vật liệu.

Phần tre non được chẻ làm lạt, phần tre già hay cây rừng bằng cổ tay được cắt thành từng khúc dài độ 1 sải tay (từ 1,5 m đến 1, 6 m). Tre, luồng lớn thì chẻ làm đôi hay làm bốn, tùy theo cỡ. Sau đó, hai đầu các khúc này đều được vát nhọn như mũi mác, được gọi là khúc chính. Còn các cành tre và cây nhỏ hơn cũng được chặt thành khúc dài hơn nửa sải tay và vuốt nhọn như chông, được gọi là khúc phụ. Tất cả quân lính cùng thanh niên trai tráng thi nhau làm việc. Phụ nữ em bé thì nướng khoai, luộc ngô, sắn cho mọi người ăn. Công việc diễn tiến hết sức tốt đẹp và tinh thần binh sĩ lên rất cao.

Sau khi công việc này xong, Tướng Nguyễn cùng Quân Sư Vũ chia lính thành từng tổ, mỗi tổ hai người lính và một hay hai dân tộc thiểu số giúp. Mỗi tổ lấy ba khúc chính (tre hay cây dài), rồi dùng lạt tre hay dây rừng buộc lại với ở chính giữa và nhau thẳng góc với nhau ( theo 3 trục x, y, z trong hình học giải tích hay hình học không gian với gốc tạo độ O là chính giữa, chỗ buộc). Để tăng cường sức mạnh, họ lấy các khúc phụ (cành nhỏ) nối liền các thân chông chính với nhau, rồi lại nối thêm các mũi chông nhỏ đâm từ tâm ra ngoài. Với cái bàn chông di động này khi được quăng ra mặt đất, bất kỳ dưới góc cạnh nào, đều có 3 mũi chính và chục mũi phụ nhọn hoắt chĩa lên trên. Nếu có một sức mạnh nào đè lên bàn chông thì đầu kia càng cắm sâu xuống đất bấy nhiêu và nó trở nên mạnh hơn. Khi bàn chông hoàn tất sẽ là một khối lập phương, với các mũi nhọn đâm ra ngoài, nhìn giống như con cầu gai hay con nhím.

 

Như vậy, quân ta có 5000 bàn chông di động.

Về vũ khí, mỗi tổ trên, một ngừơi mang nỏ, một ngừơi mang trường thương.

Một số luồng độ vài chục  cây thật tốt, không quá non mà cũng chẳng quá già, thân to, mắt dài, cao độ bốn, năm sải tay được bào gọt sạch. Lóng trên cùng ở ngọn được vát đi một nửa. Ở gần đọt được cột hai sợi chão; một sợi dài hơn cây luồng, còn sợi ngắn dài khoảng 3 sải tay. Thêm vào đó một số cọc được chặt từ cây dẻ[1] rừng to bằng bắp tay, dài độ nửa sải tay một đầu vát nhọn; đầu kia được đẽo móc hay dùng mắt cây thay thế. Bẩy người lính trang bị cuốc, thuổng và đao được phụ trách mang cây luồng này cùng các thứ dẫn cháy như diêm sinh, thạch tiêu, vải rách..

Sáng hôm sau, đội hộ chông, mỗi người được phát thêm một đọan dây thừng hay dây rừng to như ngón chân cái, rất bền, dai, dài khoảng ba, bốn sải tay, cùng được chỉ cách sử dụng. Tất cả đều được nghỉ suốt ngày. Sau khi ăn cơm tối, mỗi tổ dùng thương làm đòn gánh, vừa đi vừa nghỉ, gánh cái bàn chông cầu gai ra tấn công địch quân. Đây là cách hành quân bí mật, làm giặc hoang mang khi thấy quân ta tới bất ngờ. Để tránh giặc cho quân cầu viện ở bên kia biên giới, Tướng Nguyễn cho 100 kị mã vượt rừng ra phía sau trại binh Mông Cổ, khá xa phục kích.

Nhờ vào sự chuẩn bị ở trong rừng, nên bên ta bảo toàn được bí mật.

Đến cách đồn giặc khoảng một dặm, cũng vừa nửa đêm, ta dừng quân lại.

Trại binh Mông Cổ ở trên một quả đồi cỏ thoai thoải, cũng như hầu hết các đồi miền trung hay bắc xen trên bãi cỏ đó là các bụi cây rừng cao quá bụng. Đồi này nằm ở chân núi Kỳ Cấp thuộc Lục Châu hay còn được gọi là Lam Giang. Binh sĩ được nghỉ một thêm hơn một canh giờ. Hừng sáng, tướng sĩ cùng được ăn khoai lang hay bắp luộc để có thêm năng lượng trong thời gian sắp tới. Binh ta lại đến gần trại giặc hơn, chỉ còn khoảng hơn nửa dặm[1] vì bây giờ ta đã có bàn chông nên không sợ địch tấn công. Nếu chúng tấn công ta thì thật là đại phước, đó chính là mục tiêu của ta.

Tối hôm trước, đạo kị binh binh Mông Cổ biết tin quân ta xuất hiện, nhưng chúng không xuất quân vì muốn ta tới tấn công chúng để chúng có lợi địa. Nếu binh Mông Cổ tấn công nơi ta đóng quân thì ta lại có địa lợi và họ chưa nắm vững tình thế.  Hơn nữa trời tối cũng chẳng mấy tốt cho kị binh của họ. Dù sao đi nữa, quân binh Mông Cổ phải luôn luôn ở trong tình trạng ứng chiến.[2]

 Quân ta quăng các bàn chông ra, lớp trong, lớp ngoài, theo ý Quân Sư Vũ, rồi nối hai tâm của hai cái bàn chông thành một cặp, cách nhau khoảng hơn sải tay. Trong khi ấy, đội vác luồng đào lỗ to khoảng hơn một gang tay sâu độ 5, 6 gang nằm nghiêng khoảng 45 độ đối với mặt đất. Khi đào xong, họ chôn gốc cây luồng xuống đất, mà mặt bị vát hướng vào trại lính Mông và lèn thật chặt. Đội này lại đóng cọc nhọn ngay bên dưới chỏ6 bị vát, rồi lấy sợi chão ngắn nối ngọn cây luồng với cọc bên dưới. Chiều dài dây ngắn này phải vừa đủ căng. Bên trên gốc gây, tiểu đội lính này được lệnh kiêng tảng đá lớn để lên trên.

Khi công việc này xong, Tướng Nguyễn cho đạo quân dùng nỏ, ra phía tước hàng chông, tấn công đối phương; những ngừơi có sức khỏe, nỏ mạnh dùng tên lửa bắn vào lều giặc. Đa số tên này rơi bên ngoài trại giặc.

 




[1] Dặm Trung Quốc = nửa dặm Âu Châu. Tính ra khoảng 400 m.
[2] Chuyện này thực sự cũng đã xẩy ra, khi quân Mông bị tấn công ban đêm thường chịu tổn thất mà không đám phản công mạnh. Quận công Kálmán và tổng giám mục Ugrin Csák đánh quân Mông trên cầu sông Sajó lúc nửa đêm, như chúng tôi  đã thuật ở chương 04.





[1] Dẻ là một loại cây rất cứng và dai, mọc trong rừng miền bắc.